Hoạch định nhân sựVăn hóa doanh nghiệpLương bổng và đãi ngộLuật lao độngTuyển dụngĐào tạo và phát triểnĐộng viênĐánh giá hoạt động

Văn hóa và văn hóa doanh nghiệp (Phần 1)

15:16 31/10/2013 in Văn hóa doanh nghiệp

Trong đời sống của xã hội đương đại, từ văn hóa được sử dụng trong rất nhiều ngữ cảnh khác nhau, nó tự nhiên trở thành đa nghĩa. Vì thế, khi thảo luận một vấn đề có liên quan đến văn hóa, trước hết người ta phải làm rõ nghĩa của thuật ngữ này.

Đã có không biết bao cách giải thích từ văn hóa. Tuy diễn đạt khác nhau, nhưng có một số điểm chung mà mọi người đều thừa nhận, rằng: văn hóa là phương thức tồn tại đặc hữu của loài người, khác về cơ bản với tổ chức đời sống các quần thể sinh vật trên trái đất. Nó là cái do con người học được mà có, chứ không phải là cái bẩm sinh do di truyền sinh học. Bàn về văn hóa, viện sĩ người Pháp Teilhard de Chardin (1) có đưa ra một nhận định, đại ý nói rằng: Trái đất hình thành và phát triển đến một lúc nào đó thì xuất hiện sự sống, ông gọi đó là sinh quyển (Biosphère). Tiếp đó là sự ra đời của tri quyển (Noosphère) gắn với sự xuất hiện của người khôn ngoan hiện đại (Homo – Sapiens – Sapiens). Tri quyển là quyển về ý thức, về tinh thần do con người tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn. Đó chính là văn hóa, biểu hiện như là “thế giới tinh thần” của con người.

Để giải thích từ văn hóa, các nhà văn hóa học phương Tây ngày nay thường chia ra hai trường hợp (2)

a/ Từ văn hóa viết hoa, số ít (Culture) được chỉ định là một thuộc tính chỉ có ở loài người. Nó là cái dùng để phân biệt giữa loài người và loài vật. Đó là khả năng tư duy, học hỏi, thích ứng và sáng tạo ra những quan niệm, biểu tượng giá trị, làm cơ sở cho hệ thống ứng xử, để loài người có thể tồn tại và phát triển.

b/ Từ văn hóa không viết hoa, số nhiều (cultures) chỉ những nền (kiểu) văn hóa khác nhau, tức là những lối sống của các thể cộng đồng người, biểu hiện trong những quan niệm về giá trị, trong hệ thống các hành vi ứng xử, mà các cộng đồng người ấy đã học hỏi được và sáng tạo ra trong hoạt động sống của họ. Đó còn là những truyền thống của cộng đồng, hình thành nên trong các điều kiện xã hội – lịch sử nhất định.

Quan niệm văn hóa trên đây tương đối phù hợp với định nghĩa văn hóa do nguyên Tổng giám đốc UNESCO Federico Mayor đưa ra, nhân dịp phát động “Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa” 1988 – 1997. Ông viết: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” (3).

Tương tự với quan niệm trên, các nhà xã hội học chia văn hóa thành hai dạng: văn hóa cá nhân và văn hóa cộng đồng.

Văn hóa cá nhân là toàn bộ vốn tri thức, kinh nghiệm tích luỹ vào mỗi cá nhân, biểu hiện ở hệ thống quan niệm và hành xử của cá nhân ấy trong đời sống thực tiễn. Văn hóa cộng đồng là văn hóa của một nhóm xã hội, nó không phải là số cộng giản đơn của những văn hóa cá nhân – thành viên của cộng đồng xã hội ấy, mà là toàn bộ những quan niệm, giá trị và hệ thống ứng xử được các thành viên trong cộng đồng chia sẻ và chấp nhận, đã trở thành truyền thống của cộng đồng xã hội ấy.

Trong hoạt động doanh nghiệp thì “văn hóa doanh nhân” là thuộc dạng văn hóa cá nhân, còn “văn hóa doanh nghiệp” là thuộc dạng văn hóa cộng đồng. Người ta cũng gọi văn hóa cộng đồng là “văn hóa tổ chức” (Organization culture).

Định nghĩa văn hóa của F. Mayor vừa nêu trên đây chính là nói về nội dung và đặc điểm của văn hóa cộng đồng.

Trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa học, bên cạnh khái niệm văn hóa, người ta còn sử dụng khái niệm văn minh. Hiện có ba cách hiểu khác nhau về cặp khái niệm này:

a/ Cách hiểu thứ nhất xem văn hóa, văn minh là những từ đồng nghĩa (E.B. Tylor – nhà nhân học Anh).

b/ Cách hiểu thứ hai dựa trên quan điểm tiến hóa luận thế kỷ XIX, xem văn minh là nấc thang tiến hóa của văn hóa. Điều đó có nghĩa là: khi con người hình thành về mặt giống loài là đã có văn hóa, phát triển đến một giai đoạn nào đó mới xuất hiện văn minh (biết sử dụng kim loại làm công cụ sản xuất, có văn tự, đã hình thành nhà nước). Đây là quan niệm của nhà dân tộc học Hoa Kỳ L. Morgan, sau đó được Ph. Ăng-ghen tiếp thu.

c/ Phần đông các nhà khoa học ngày nay xem văn hóa và văn minh là hai từ có nội dung ý nghĩa vừa có điểm chung nhau, vừa có điểm khác nhau. Văn hóa, văn minh đều là thành tựu của loài người, đạt được trong quá trình hoạt động thực tiễn. Văn minh là một tổng thể những thể chế xã hội, gắn liền với những thành tựu về vật chất – kỹ thuật, thể hiện trình độ thích ứng và cải tạo thiên nhiên mà xã hội ấy đã đạt được; còn văn hóa biểu thị trong những sinh hoạt tinh thần, thành tựu của nó bộc lộ ra thông qua các lĩnh vực tư tưởng, triết học, tôn giáo và nghệ thuật.

Trong đời sống tâm lý, văn minh thiên về lý trí, văn hóa nghiêng về tinh thần. Nếu chấp nhận mỗi hình thái kinh tế – xã hội được xem là một nền văn minh, như các nền văn minh cổ đại, trung cổ, cận đại, thì tương ứng với các loại hình xã hội trên, sẽ có các loại hình văn hóa cổ đại, trung cổ và cận đại, bao gồm các giá trị về tư tưởng, triết học, tôn giáo và nghệ thuật của các xã hội ấy. Như vậy văn hóa biểu hiện như là bình diện tinh thần, là linh hồn của mỗi nền văn minh. Theo cách giải thích này, ta có thể hiểu nền văn minh Xô viết đã bị giải thể vào những năm 90 của thế kỷ trước, còn văn hóa Xô viết tức hệ thống giá trị do xã hội xô viết tạo ra thì vẫn tồn tại, nó tiềm nhập vào nền văn hóa Liên bang Nga, sau khi đã trước bỏ đi những yếu tố bất tương hợp.

Xuất phát từ quan niệm văn hóa trên đây, xin bàn về thuật ngữ văn hóa doanh nghiệp.

(còn nữa)

 

0 Comments

Đăng nhập

Hỏi Chuyên gia Quantri.vn

Trong trường hợp đã là thành viên: Đặt câu hỏi miễn phí với chuyên gia Quantri.vn. Câu hỏi của thành viên sẽ được trả lời trong vòng 7 ngày. Trong trường hợp khẩn cấp, vui lòng liên hệ (08).22.49.49.49 Đặt câu hỏi
Tìm kiếm câu trả lời trước khi đặt câu hỏi

Danh sách chuyên gia

Tư vấn gần đây

Công cụ mới

Tài liệu mới