Hoạch định nhân sựVăn hóa doanh nghiệpLương bổng và đãi ngộLuật lao độngTuyển dụngĐào tạo và phát triểnĐộng viênĐánh giá hoạt động

Niềm tin và xây dựng niềm tin

10:42 13/09/2013 in Văn hóa doanh nghiệp
Việc xây dựng trong đội ngũ lao động niềm tin lẫn nhau và niềm tin  vào những mục tiêu chung của tổ chức, doanh nghiệp có ý nghĩa sống còn với khả năng tồn tại và cạnh tranh của chính doanh nghiệp, tổ chức đó. Vậy niềm tin là gì, điều gì có thể tác động đến niềm tin và niềm tin được hình thành bên trong con người như thế nào?



Niềm tin là gì

  • Thế nào là tin tưởng?
  • Con người tin như thế nào?
Tin tưởng bao gồm cả cảm nhận và lô-gic.
  • Đứng trên khía cạnh cảm nhận, tin tưởng là việc bản thể hiện ra những điểm “dễ tổn thương” của mình với người khác và tin rằng họ sẽ không lợi dụng điều đó để thực hiện một mục tiêu tiêu cực. Cảm giác đi cùng với tin tưởng có thể là tinh thần đoàn kết, tình bạn, tình yêu, sự đồng thuận, cảm giác thoải mái, yên tâm,ldots
  • Đứng trên khía cạnh lô-gic, tin tưởng là việc bạn đã ấn định mức xác suất có lợi và có hại, tính toán các mức có lợi kỳ vọng trên cơ sở các dữ liệu có thực và đưa ra kết luận liệu người nào đó có hành động theo cách thức mà có thể dự đoán được.
  • Trên thực tế, tin tưởng cần đến cả hai khía cạnh trên: “Tôi tin anh bởi vì tôi đã từng nhận thấy mức độ đáng tin của anh và vì tôi tin vào bản tính con người.”
Định nghĩa niềm tin
Định nghĩa theo khả năng có thể dự đoán
Con người luôn cố gắng dự đoán về những gì có thể xảy ra trong tương lai. Mỗi người có một mô hình nhận thức riêng về thế giới xung quanh, đây là cơ sở để ta xác định những nguy cơ đe doạ và lập kế hoạch bản thân. Một kẻ thù tin được còn hơn một người bạn mà không thể biết anh ta nghĩ gì.

Định nghĩa 1: Tin tưởng nghĩa là có thể dự đoán được người khác sẽ làm gì, tình huống nào có thể xảy ra. Nếu ta có thể xây dựng xung quanh mình những người có thể tin tưởng được, ta có thể tạo ra một điều kiện hiện tại tốt và thậm chí một tương lai tốt hơn.

Định nghĩa theo sự trao đổi giá trị
Trao đổi là cơ sở cho hầu hết những hoạt động giữa bản thân với chủ thể khác, là cơ sở cho mọi quan hệ kinh doanh cũng như quan hệ đơn giản hàng ngày.

Khi xen vào những yếu tố vô hình trong quan hệ, quá trình đánh giá sẽ khó khăn hơn. Chẳng hạn bố mẹ trao đổi sự quan tâm săn sóc với tình yêu của con cái, công ty trao đổi không chỉ tiền lương mà còn cả môi trường làm việc, các điều kiện hỗ trợ với lao động của mình,...

Con người có nhu cầu trao đổi giá trị do mỗi người có cách đánh gía vấn đề khác nhau, đây là nguyên lý để kết nối xã hội.

Tin tưởng vào sự trao đổi giá trị có được nếu điều ta nhận được là điều ta mong đợi. Một người khi nhận ý kiến tư vấn, người đó muốn lời tư vấn đó được dựa trên các sự kiện có thực chứ không phải ý kiến chủ quan của người tư vấn.

Định nghĩa 2: Tin tưởng là là việc thực hiện trao đổi với người khác khi bạn không có đủ hiểu biết về bản thân, mục tiêu của người đó cũng như về điều người đó có thể mang lại cho mình.

Trì hoãn quan hệ tương hỗ

Trao đổi không thuần tuý là đổi bò lấy cừu. Một công ty, một xã hội thực sự tồn tại khi có sự cho đi ở hiện tại nhưng nhận lại vào một thời điểm trong tương lai. Khi có sự sắp xếp để trì hoãn trao đổi, rủi ro sẽ tăng cao, tin tưởng là cần thiết để giảm thiểu rủi ro.

Nguyên tắc vàng: “Đối xử với người khác giống như cách người khác sẽ đối xử với bạn.”

Định nghĩa 3: Tin tưởng nghĩa là đem cho người khác với kỳ vọng sẽ được trả lại theo một cách nào đó vào một thời điểm không định trước.

Bộc lộ điểm “dễ tổn thương”
Khi tin người khác, ta không chỉ cho đi cái gì với kỳ vọng nhận lại trong tương lai, mà còn bộc lộ những điểm “dễ bị tổn thương” của bản thân mà người khác có thể lợi dụng để chống lại. Chỉ cần người tiếp nhận nó có suy nghĩ về việc lợi dụng theo mục đích tiêu cực, niềm tin đã không thể tồn tại.

Định nghĩa 4: Tin tưởng nghĩa là tạo điều kiện cho người khác có thể lợi dụng điểm “dễ bị tổn thương” của mình, nhưng kỳ vọng người đó sẽ không làm như vậy.

Con người tin như thế nào
Cơ sở tạo nên niềm tin bao gồm: sự tương đồng, mức quan tâm lo lắng và mức độ thẳng thắn, trung thực.

Sự tương đồng
Con người thường có giả định: nếu người nào đó giống mình thì họ cũng sẽ suy nghĩ và hành động giống như mình - đây là cơ sở để dự đoán cách cư xử của một người bao gồm cả đánh giá mức độ đáng tin cậy của người đó. Sự tương đồng là cơ sở để ta có thể trao đổi suy nghĩ, đặt niềm tin vào người khác.
  • Tôi là người dễ chịu, họ giống tôi nên họ cũng khá dễ chịu.
  • Tôi là người có thể tin cậy, họ giống tôi nên họ cũng có thể tin được.
Cố gắng tìm kiếm những dấu hiệu tương đồng qua các yếu tố bên trong, các biểu hiện bên ngoài:
 
Yếu tố bên trong:
Cách con người suy nghĩ và nhìn nhận thế giới xung quanh quyết định cách cư xử của người đó. Hiểu suy nghĩ của người khác là cách để có thể hiểu động cơ và đánh giá mức độ tin cậy.
  • Niềm tin-Beliefs: là cột trụ tinh thần cho mọi hoạt động của con người. Nếu ta tin một người nào đó nhìn chung là thành thật và không cố nói dối người khác, ta có xu hướng tin người đó.
  • Giá trị-Values: là nguyên tắc của mỗi người về đúng và sai, nên và không nên, thực sự quan trọng hay không quan trọng lắm.
  • Mô hình tinh thần-Mental Models: là bức tranh phức tạp mà chúng ta lập lên để qua đó giải thích về những điều xảy ra xung quanh chúng ta.
  • Mục tiêu-Goals
Yếu tố bên ngoài
  • Diện mạo bên ngoài. Nếu người khác có diện mạo giống hệt chúng ta, từ quần áo, xe,... ta thường có xu hướng giả định người đó cũng có những cách nhìn nhận, niềm tin giống như ta.
  • Cung cách ứng xử. Thông qua cách thức cư xử của người khác với ta hoặc quan sát khi người đó cư xử bên ngoài xã hội.
  • Kinh nghiệm. Dựa trên những kinh nghiệm chung như cùng làm một dự án, cùng học một trường, cùng gặp những điều kiện tương tự, cho phép tạo ra những cơ sở tốt cho quan hệ.
  • Sở thích. Cùng sở thích, cùng thói quen, cùng tôn giáo,... cũng là những cơ sở để tạo sự tương đồng.
Yếu tố môi trường
  • Văn hoá. Mỗi môi trường văn hoá như tại công sở, ở nhà, tại sân bóng,ldots đều có những nguyên tắc nhất định cho phép đánh giá một con người.
  • Nhóm. Trong cùng nhóm (có thể là cùng gia đình, cùng phòng, cùng chuyên môn,...) thường có tác động tạo niềm tin một cách tự nhiên.
Mối quan tâm
Hoàn toàn có thể dự đoán cách thức một người sẽ biểu hiện ra sao với những vấn đề nhạy cảm mà ta muốn trao đổi với họ thông qua đánh giá mức độ quan tâm của họ với chính ta hoặc với người khác.
  • Lo lắng, chăm sóc.    Người thể hiện thực sự lo lắng quan tâm, có phản ứng tích cực, thể hiện sự cảm thông khi ta cần luôn là người có nhiều cơ sở để đặt niềm tin.
  • Quyền lực.    Nếu một người có “quyền lực” để gây ra những tác động tiêu cực đến ta nhưng họ lại không làm thế, đó có thể là cơ sở để kết luận rằng họ có thể tin được. Chẳng hạn khi bạn mua lại xe của người khác, người đó nói thẳng với bạn về những vấn đề của chiếc xe đó.
Tính kiên định
Thà tin một người chống đối kịch liệt, hoặc hoàn toàn vô ích với ta còn hơn tin một người bạn mà ta không biết ngày mai anh ta sẽ khác ngày hôm nay như thế nào.

  • Quan hệ tương hỗ.    Đánh giá thông qua quan sát mức độ cân bằng trong quan điểm về công bằng của họ khi tham gia một sự trao đổi nào đó.Người đáng tin là người thường xuyên “cho và nhận” trên cơ sở cân bằng. Trong nhiều trường hợp, rất khó để đưa ra đánh giá, chẳng hạn khi một người giúp đỡ vật chất và nhận lại sự biết ơn và ủng hộ tinh thần. Nhìn chung, tiêu chí tốt nhất là đánh giá mức độ hài lòng của cả hai phía tham gia trao đổi.
  • Kiên định.    Là người luôn giữ những giá trị tinh thần trong mọi trường hợp ngay cả khi họ có thể giành được một số lợi thế ngắn hạn khi vi phạm các nguyên tắc của mình. Đây là người có thể đặt niềm tin ngay cả khi họ thể hiện sự bất đồng.Tính kiên định, liêm khiết luôn là một thành tố cơ bản hình thành một vị lãnh đạo. Là cơ sở đặt niềm tin cho những người đi theo trong những giai đoạn khó khăn.
Niềm tin trong nhóm và trong tổ chức
Niềm tin trong nhóm

What make a group a group?
(Điều gì thực sự hình thành nên một nhóm?)
  • Sự tương đồng giữa các cá nhân trong nhóm.
  • Sự khác biệt của những người trong nhóm với những người bên ngoài.
Cả hai yếu tố này đều góp phần tạo nên một nhóm nhưng sự khác biệt thường là yếu tố có ý nghĩa hơn. Chất keo kết dính một nhóm là sự tin tưởng, xác định qua niềm tin chung, giá trị chung. mục tiêu chung,... của cả nhóm.

Niềm tin trong tổ chức
Niềm tin trong tổ chức hình thành trên cơ sở các yếu tố
Giá trị và văn hoá tổ chức. Là những nguyên tắc không thành văn điều chỉnh cách thức ứng xử trong tổ chức, cách nhận thức chung. Khi những giá trị và văn hoá tổ chức hỗ trợ tạo dựng niềm tin, điều này sẽ khuyến khích liên kết, phụ thuộc lẫn nhau trong công việc, ủng hộ lẫn nhau trở thành “điều cần làm.”

Phụ thuộc lẫn nhau. Khi công việc có sự phụ thuộc lẫn nhau, thành viên tổ chức sẽ dễ dàng giao tiếp và trao đổi, tạo cơ sở củng cố niềm tin.

Vai trò và quy trình cụ thể. Thể hiện phương thức đạt đến mục tiêu tổ chức. Khi vị trí, trách nhiệm mỗi thành viên trong quy trình chung được xác định cụ thể trên cơ sở mục tiêu của tổ chức, mỗi người bên cạnh những mối liên kết chung với cả tổ chức và các thành viên sẽ có tiêu chí làm việc cụ thể và mức độ tự do nhất định khi ra quyết định.

Mục tiêu chung. Xác định điểm đến cuối cùng, định hướng chung. Mục tiêu chung là cơ sở tìm kiếm sự đồng thuận trong những tình huống không thuận lợi, qua đó tập hợp niềm tin mọi người.

Sự hiện hữu. Niềm tin sẽ ra tăng mạnh nếu bản thân nó có thể được nhận thấy rõ thông qua cách thức hoạt động của các thành viên.

Hệ quả của sự vi phạm. Tổ chức muốn duy trì niềm tin cần có phương thức xử phạt với những trường hợp vi phạm niềm tin.

Tài liệu giảng dạy của InvestVietnam

 

0 Comments

Đăng nhập

Hỏi Chuyên gia Quantri.vn

Trong trường hợp đã là thành viên: Đặt câu hỏi miễn phí với chuyên gia Quantri.vn. Câu hỏi của thành viên sẽ được trả lời trong vòng 7 ngày. Trong trường hợp khẩn cấp, vui lòng liên hệ (08).22.49.49.49 Đặt câu hỏi
Tìm kiếm câu trả lời trước khi đặt câu hỏi

Danh sách chuyên gia

Tư vấn gần đây

Công cụ mới

Tài liệu mới