Mua bán Sát nhậpNhượng quyềnChiến lược cạnh tranhTái cấu trúcQuản trị thay đổi

Sức mạnh mềm: Nghiên cứu sự vận dụng trong thực tiễn của Trung Quốc

09:20 16/06/2014 in Tái cấu trúc

Tóm tắt

Cuối thập niên 1980, học giả Mỹ Joseph S. Nye là người đầu tiên đưa ra khái niệm sức mạnh mềm. Trong cuốn Lãnh đạo đã được định trước năm 1990, ông cho rằng trong thế giới ngày nay Mỹ không chỉ có lợi thế về sức mạnh cứng như kinh tế, quân sự, khoa học công nghệ, hệ thống hạ tầng cơ sở, nguồn nhân lực... mà còn có lợi thế về sức mạnh mềm như văn hóa quan điểm chính trị, hình thái ý thức nền dân chủ. Trong bối cảnh đó, việc vận dụng sức mạnh mềm như văn hóa, chính sách đối ngoại, đối nội sẽ giúp cho các cường quốc kinh tế gây ảnh hưởng tới các nước nhỏ và các hoạt động quốc tế. Việc đưa ra khái niệm sức mạnh mềm đã làm tăng thêm một góc nhìn mới trong quan sát chính trị quốc tế. Từ đó trở về sau, sức mạnh mềm trở thành một thuật ngữ được các học giả quan hệ quốc tế sử dụng thường xuyên.

Từ khóa:   Sức mạnh mềm, Trung Quốc

1. Quan niệm về sức mạnh mềm của Joseph.S.Nye

Để định nghĩa một cách đầy đủ, sức mạnh mềm là gì? J.S.Nye cho rằng sức mạnh mềm là khả năng hướng tới mục tiêu bằng sức hấp dẫn của mình chứ không phải bằng sự cưỡng ép trong các hoạt động quốc tế. Sức mạnh mềm chủ yếu bắt nguồn từ ba lĩnh vực: văn hóa (phát huy tác dụng hấp dẫn đối với các nước khác), quan điểm chính trị và giá trị chính trị (khi ở trong và ngoài nước đều thực hiện những giá trị này) và chính sách ngoại giao (khi chính sách đó được coi là hợp pháp và có uy tín về đạo đức).

Khi giải thích sức mạnh mềm phát huy tác dụng như thế nào đối với cộng đồng quốc tế, Nye nêu rõ, (1) nếu như một nước có thể làm cho sức mạnh của mình hợp pháp ở một nước khác, thì khi thực hiện ý chí của mình sẽ ít gặp sự chống đối. (2) Nếu nền văn hóa và hình thái ý thức của nước đó có sự hấp dẫn, thì các nước khác cũng mong muốn học tập theo. (3) Nếu nước đó có thể xây dựng được một quy phạm quốc tế, giống với xã hội của mình thì khả năng phải thay đổi chính mình là rất nhỏ. (4) Nếu nước đó có thể giúp đỡ, ủng hộ một chế độ, khuyến khích các nước khác lựa chọn hoặc hạn chế hành vi của mình dựa trên cách thức mà quốc gia chủ chốt ưa thích, thì quá trình mặc cả có thể không cần phải áp dụng biện páp cưỡng chế hoặc sử dụng sức mạnh bạo lực.

Xét một cách tương đối, sức mạnh mềm có những đặc trưng riêng của nó: (1) sức mạnh mềm phát huy tác dụng thông qua sức hấp dẫn của văn hóa, hình thái ý thức chứ không phải cưỡng ép thông qua trừng phạt kinh tế, quân sự. (2) sức mạnh mềm không mang tính độc quyền. Nguồn sức mạnh mềm không thể bị một số quốc gia hoặc tổ chức quốc tế nào độc quyền. (3) ảnh hưởng của sức mạnh mềm đối với quốc gia là vô hình, nhưng lại rất sâu sắc. Nếu như một quốc gia hùng mạnh về sức mạnh mềm thì quốc gia đó sẽ thu lợi rất lớn từ hiệu quả của sức mạnh mềm mà không bị trả giá nhiều.

Việc phát huy sức mạnh mềm chịu tác động của nhiều yếu tố. Trước hết là sự hạn chế của nguồn giá trị chính trị. Do bất bình đẳng trong phát triển chính trị, kinh tế thế giới, nguồn tài nguyên chính trị của các nước rất khác nhau. Những nước có nguồn tài nguyên chính trị phong phú thường có nhiều nguồn sức mạnh mềm hơn, có thể phát huy một cách hiệu quả tác dụng của sức mạnh mềm. Trong khi đó những nước nhỏ, thiếu nguồn tài nguyên chính trị, việc phát huy hiệu quả và tác dụng của sức mạnh mềm rất hạn chế. Thứ hai, sự khác biệt về hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên sức mạnh mềm cũng ảnh hưởng rất lớn tới việc phát huy tác dụng của sức mạnh mềm. Nguồn tài nguyên sức mạnh mềm phải thực thi mới có thể phát huy tác dụng. Trong quá trình thực thi, kỹ năng và hiệu quả trực tiếp ảnh hưởng tới kết quả của sức mạnh mềm. Sự chênh lệch về hiệu quả sử dụng sức mạnh mềm của các chủ thể hành vi đã làm cho hiệu quả của sức mạnh mềm khác nhau. Thứ ba, mục tiêu thực hiện sức mạnh mềm của các chủ thể hành vi khác nhau cũng có ảnh hưởng nhất định tới việc phát huy vai trò của sức mạnh mềm.

Sức mạnh mềm ngày càng trở thành nhân tố cơ bản trong địa vị quốc tế của một quốc gia, việc đặt sức mạnh mềm ở tầm cao chiến lược trở thành yêu cầu căn bản thực hiện mục tiêu tổng thể quốc gia, đưa mềm vào sức mạnh tổng thể của quốc gia, kết hợp với sức mạnh cứng đang trở thành một xu hướng phát triển của nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước lớn. Để tìm hiểu các khía cạnh về sức mạnh mềm của các nước lớn ta xem xét trường hợp của Trung Quốc.

2. Trường hợp Trung Quốc

Từ khi cải cách mở cửa, đến nay Trung Quốc đã phát triển rất nhanh chóng và vươn lên trở thành quốc gia đứng thứ 2 về kinh tế thế giới. Với nguồn FDI hàng năm thu hút được khá lớn, Trung Quốc trở thành trung tâm chế tạo lớn của thế giới, giúp cho tốc độ tăng trưởng hàng năm đạt 8%-9%. Trung Quốc đang thực hiện chiến lược đổi mới công nghệ và đang có tham vọng vượt Mỹ vào năm 2050. Bên cạnh sức mạnh cứng, Trung Quốc cũng đang tích cực phát triển nguồn sức mạnh mềm. Điều đó có ý nghĩa rất quan trọng, giúp Trung Quốc phát huy được ảnh hưởng lớn hơn trên vũ đài quốc tế.

Chúng ta xem xét các yếu tố sức mạnh mềm của Trung Quốc.

Thứ nhất yếu tố văn hóa.

Văn hóa là sự tổng hòa hàng loạt các quan điểm giá trị và thực tiễn tạo nên ý nghĩa cho xã hội, là nguồn quan trọng cho sức mạnh của Trung Quốc. Văn hóa Trung Quốc được xem là có lợi thế trời cho, điều đó không chỉ thể hiện ở tính tiên tiến của văn hóa cổ đại Trung Quốc, với hạt nhân là văn minh Nho giáo với sức lan tỏa rộng lớn của nó tới các khu vực xung quanh. Mặt khác, còn có tác động tích cực thúc đẩy văn hóa Nho giáo trong hàng hoạt các phong trào nổi dậy ở Nhật Bản và các nước ASEAN.

Hơn 10 năm qua, văn minh Phương Tây đã xâm nhập vào tạo thành thách thức to lớn đối với văn minh Phương Đông, nhưng nhiều thành tựu to lớn về kinh tế, khoa học công nghệ, quân sự, nghiên cứu vũ trụ... mà Trung Quốc đạt được trong cải cách mở cửa đã tạo sức mạnh cho Trung Quốc tham gia giải quyết các vấn đền tranh chấp quốc tế. Do vậy, bối cảnh quốc tế đã có nhiều thay đổi, khu vực châu Á - Thái Bình Dương trở thành khu vực kinh tế năng động, cùng hợp tác phát triển, truyền thống văn hóa Trung Quốc tiếp tục phát triển và Trung Quốc trở thành nơi hội tụ của văn hóa Đông – Tây.

Hiện nay Trung Quốc đã nhận thức đầy đủ việc truyền bá văn hóa Trung Quốc để nâng cao năng lực sức mạnh mềm. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc gần đây đều nhấn mạnh, văn hóa Trung Quốc không chỉ thuộc về Trung Quốc, đồng thời cũng thuộc về thế giới. Trung Quốc phải tăng cường giao lưu văn hóa, thúc đẩy văn hóa đi đôi với sự phồn vinh. Trung Quốc đã ký hiệp định chính phủ về hợp tác văn hóa với 145 quốc gia, đã xây dựng các trung tâm văn hóa ở Pháp, Ai Cập, Hàn Quốc... Từ năm 2004 bắt đầu xây dựng Học viện Khổng Tử tại nhiều nơi trên thế giới. Tính đến hết tháng 7 năm 2007, Trung Quốc đã ký hiệp định xây dựng 170 học viện Khổng Tử tại hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ. Đồng thời số người tham gia học chữ Hán ngày càng tăng, với mức tăng hàng năm khoảng 40-50% trong những năm gần đây, tương đương với mức tăng số người dự thi TOEFL ở Mỹ, 10 năm trước đây[3].

Trung Quốc còn tổ chức thành công các hoạt động Tết văn hóa Trung Quốc ở các nước Mỹ, Pháp, Nga, Ấn Độ, Phần Lan... làm sâu sắc thêm sự hiểu biết và nhận thức của các nước lớn trên thế giới về văn hóa Trung Quốc. Ngoài ra, trong 10 năm gần đây, sinh viên nước ngoài học tập tại Trung Quốc tăng 3 lần, trong đó số lượng sinh viên đến từ các nước trong khu vực Châu Âu và Mỹ tăng đáng kể. Năm 2007 có 195 nghìn người, đến từ nhiều quốc gia. Hiện tại, sinh viên nước ngoài đang học tập tại Trung Quốc chiếm hơn 72% là sinh viên Châu Á, trong số sinh viên nước ngoài học Hán ngữ chiếm  tới 100 nghìn người[4]. Sự gia tăng số lượng sinh viên nước ngoài học tập tại các trường đại học Trung Quốc, không chỉ thể hiện sức hấp dẫn của quá trình tăng trưởng kinh tế, mà còn chứng tỏ Trung Quốc đã trở thành trung tâm lớn tại châu Á, có sức hấp dẫn. Ngược lại số sinh viên Trung Quốc tại nước ngoài cũng đang trở thành lực lượng chủ yếu trong các hoạt động giao lưu văn hóa giữa Trung Quốc và nước ngoài.

Thứ hai, yếu tố quan niệm.

Trên bình diện quốc gia, thì quan niệm là một loại sức mạnh mềm. Sự thay đổi các quan niệm cũng là một loại sức mạnh mềm. Từ năm 1840 đến nay, sự thay đổi quan niệm của Trung Quốc chịu ảnh hưởng và tác động sâu sắc của văn hóa ngoại lai, trong đó chứa đầy sự giao tranh quyết liệt và hòa nhập từng bước giữa văn hóa truyền thống và văn hóa phương Tây. Từ năm 1977 đến nay, cải cách và mở cửa trở thành dòng chảy chính của sự thay đổi các quan niệm tại Trung Quốc. Trong tiến trình đó, cải cách của Trung Quốc bắt đầu từ trong nước, nhưng trên thực tế, ảnh hưởng của tinh thần cải cách và các biện pháp thúc đẩy cải cách đã giúp cho Trung Quốc hội nhập nhanh hơn với nền kinh tế thế giới và các thể chế quốc tế. Ngược lại, những tác động từ bên ngoài đang giúp Trung Quốc mở cửa sâu rộng hơn để thay đổi và tiếp thu các giá trị mới. Trung Quốc đang trở thành nhân tố tích cực thúc đẩy các hoạt động quốc tế quan trọng.

Trong chiến lược phát triển quốc gia, Trung Quốc đã xác định lấy nhiệm vụ phát triển kinh tế là nội dung trọng tâm. Với chiến lược phát triển quốc gia như vậy, một mặt Trung Quốc nỗ lực cải cách thể chế, đổi mới nhận thức trong tư duy phát triển kinh tế. Mặt khác Trung Quốc tích cực tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, trở thành một trong những quốc gia đầu đàn của nền kinh tế thế giới, lấy mục tiêu phát triển tốc độ cao, bền vững để thúc đẩy kinh tế thế giới và mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc trong nền kinh tế toàn cầu và kinh tế khu vực. Ngoài ra, trong những năm gần đây Trung Quốc đã giảm và xóa nợ cho các nước nghèo, ra sức triển khai chính sách kinh tế mang màu sắc Trung Quốc thông qua các biện pháp như viện trợ kinh tế, hợp tác phát triển kinh tế, mở ra con đường mới để đạt được lợi ích quốc gia ở nhiều khía cạnh khác nhau.

Thể chế, không chỉ bao hàm việc tham gia vào thể chế quốc tế, mà còn xây dựng chế độ chính trị cơ bản trong nước. Trung Quốc đã tham gia tích cực để hoàn thiện thể chế quốc tế, do đó năng lực xây dựng thể chế quốc tế của Trung Quốc cũng được nâng cao. Xét từ góc độ khu vực, cùng với sự tham gia của Trung Quốc, quan hệ giữa Trung Quốc và các nước xung quanh đã có nhiều thay đổi. Một vành đai kinh tế xoay quanh kinh tế Trung Quốc đã được hình thành, đó là việc hợp tác kinh tế với các nước ASEAN, với các nước tiểu vùng sông Mekong. Trung Quốc đang thúc đẩy quá trình hình thành cộng đồng Đông Á, tạo ra thể chế quốc tế mang tính khu vực để cạnh tranh với Nhật Bản tại khu vực này. Trung Quốc đã chuyển từ thế bị động sang chủ động, triển khai tích cực các lĩnh vực hợp tác như kinh tế, an ninh, quân sự tại khu vực biển Đông. Đồng thời Trung Quốc cũng là quốc gia chủ yếu tham gia tổ chức hợp tác Thượng Hải. Những chính sách và động thái hợp tác, đã giúp cho Trung Quốc làm dịu đi mối nghi ngờ của các nước khác trong khu vực trước tham vọng bành trướng, bá quyền đã từng tồn tại trong những thập niên trước đây.

Trong tiến trình thực hiện quan điểm phát triển khoa học, các nhà lãnh đạo Trung Quốc, từng bước hình thành tư tưởng chiến lược xây dựng xã hội hài hòa trong nước, xây dựng thế giới hài hòa trên phạm vi quốc tế. Hài hòa trở thành thuật ngữ hạt nhân trong sức mạnh mềm của Trung Quốc, bởi vì khái niệm này cũng chính là cam kết của Trung Quốc với toàn thể thế giới.

Thứ ba, mô hình phát triển.

Chính sách đối nội và đối ngoại của chính phủ là nguồn sức mạnh mềm, có tác dụng làm tăng hoặc giảm sức mạnh quốc gia. Khi chính sách đối nội và đối ngoại của một quốc gia được nhiều nước công nhận, điều đó có nghĩa là sức mạnh mềm của nước này càng được tăng cường. Từ khi cải cách mở cửa đến nay, xã hội Trung Quốc ổn định, tốc độ tăng trưởng đạt mức cao. Những thành tựu mà Trung Quốc đạt được trong xây dựng và hiện địa hóa trong nước khiến cả thế giới ngạc nhiên. Đông đảo các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước nghèo đang hướng tới mô hình phát triển Trung Quốc.

Trái ngược với con đường phát triển của các nước phương Tây, cách đi của Trung Quốc được gọi là “Dò đá qua sông”. Tháng 5 năm 2005, Trung tâm Nghiên cứu Chính sách ngoại giao London đã tổ chức cuộc Hội thảo “Nhận thức về Trung Quốc”, các tác giả đều cho rằng mô hình phát triển của Trung Quốc là phù hợp với tình hình đất nước và xã hội Trung Quốc đòi hỏi. Đó là tìm kiếm sự công bằng xã hội thông qua tăng trưởng cao. Ý tưởng mới của Trung Quốc đang có ảnh hưởng to lớn với thế giới bên ngoài. Các nhà lãnh đạo của các quốc gia châu Phi đang quan tâm tới sự phát triển nhanh chóng của Trung Quốc dựa trên nền tảng ổn định chính trị và đang tích cực học hỏi kinh nghiệm. Các nhà lãnh đạo Liên bang Nga cũng đang bắt đầu học tập những kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc mở cửa, cải cách thu hút FDI. Các quốc gia vùng Trung Á, Ấn Độ, Việt Nam, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên cũng đang tiếp thu những kinh nghiệm phát triển của Trung Quốc. Thực tế cho thấy là các quốc gia này đã đạt được những thành quả rõ rệt.

 

 

Thứ tư, thể chế quốc tế.

Quan hệ giữa Trung Quốc với thể chế quốc tế trải qua nhiều sóng gió. Quá trình trải dài từ việc từ chối đến thừa nhận, từ nghe ngóng ở ngoài đến tham dự, từ việc đóng vai trò thông thường đến giành quyền phát ngôn trong các cuộc họp quan trọng. Quá trình này đi cùng với hai sự chuyển động chưa kết thúc mà người Trung Quốc thường gọi là chuyển từ thế giới của Trung Quốc sang Trung Quốc của thế giới, từ người ngoài cuộc của hệ thống thế giới thành người trong cuộc. Việc hoàn thành hai quá trình này ở một mức độ nhất định cũng có thể coi là thước đo thông thường sự phát triển của Trung Quốc.

Từ năm 1978, bắt đầu thực hiện chính sách mở cửa đối ngoại, Trung Quốc đã từng bước hòa nhập vào thể chế quốc tế, trở thành nước tham gia phần lớn các thể chế quốc tế mang tính toàn cầu. Trung Quốc tiếp thu được nguồn tri thức mới, công nghệ mới, vốn đầu tư từ các tổ chức quốc tế và học cách lợi dụng các quy tắc quốc tế để bảo vệ lợi ích của mình. Hành vi của Trung Quốc trong thể chế quốc tế cũng đã làm cho nhiều nước hài lòng, để đạt được các thỏa thuận, Trung Quốc kiên trì thương lượng, khi hiệp định được ký kết, Trung Quốc tiến hành thực hiện nghiêm túc. Số lượng các thể chế quốc tế mà Trung Quốc tham gia chiếm tỷ lệ cao. Tỷ lệ tham gia các tổ chức quốc tế trên toàn cầu với các chính phủ của Trung Quốc đạt 61,19%, xếp thứ 27 trong số các nước tham gia. Tỷ lệ tham gia các tổ chức phi chính phủ trên toàn cầu đạt 58,14%, xếp thứ 31 trong tổng số các nước tham gia. Xét về chất lượng các hoạt động tham gia các tổ chức quốc tế, Trung Quốc cũng đạt được những tiến bộ rất quan trọng, thể hiện ở chỗ là ủy viên thường trực của Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc. Là nước đang phát triển duy nhất tham gia Hội đồng này, Trung Quốc trở thành nhân tố tích cực đấu tranh cho các nước đang phát triển, đặc biệt là sau khi Trung Quốc gia nhập WTO vào tháng 12/2001.

Sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 - 1998, vai trò của Trung Quốc trong thể chế khu vực được nâng lên và đang làm mờ vai trò của Nhật Bản tại khu vực này. Trung Quốc chủ động thành lập Tổ chức Thượng Hải, tích cực ủng hộ Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN, đề xướng việc xây dựng khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc và tích cực thúc đẩy hợp tác ASEAN với ba nước Đông Á, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, tiến tới thành lập cộng đồng Đông Á. Nhìn chung, hình ảnh của Trung Quốc đã được cải thiện rất nhiều trong hơn 3 thập niên qua, nguồn sức mềm của Trung Quốc ngày càng phong phú. Trung Quốc đang cố gắng nâng cao hiệu quả nguồn sức mạnh mềm để hỗ trợ cho sức mạnh cứng, giúp Trung Quốc trở thành một cường quốc trên thế giới.

 

              ***

 

Sức mạnh mềm của một quốc gia là những khái niệm được bàn luận nhiều trên các diễn đàn kinh tế và chính trị quốc tế gần đây. Sự nổi lên của một số quốc gia của Trung Quốc đã làm cho cục diện thế giới thay đổi và quá trình toàn cầu hóa không còn bị Mỹ và châu Âu chi phối. Sức mạnh cứng là quan trọng, nhưng áp đặt sức mạnh cứng cho một quốc gia khác thường bị cộng đồng quốc tế phản đối, do đó cần phát huy sức mạnh mềm. Khi sức mạnh mềm được phát huy và kết hợp với sức mạnh cứng thì sức mạnh của quốc gia càng được tăng cường.

 

 

Theo Ths.NCS Đậu Xuân Đạt

http://quantri.vn/user/expert/1782-ncs.tien-si--dau-xuan-dat


Tài liệu tham khảo

  1. Đậu Xuân Đạt ( 2013), Một số quan điểm về thương mại tự do và sự vận dụng trong thực tiễn của một số quốc gia Đông Á, Tạp chí Kinh tế Đối ngoại số 55, Đại học Ngoại thương.
  2. Đậu Xuân Đạt ( 2011), Cơ sở lý luận và thực tiễn quan hệ hợp tác Việt Nam – Trung Đông, Tạp chí nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông số 09(73).
  3. Nguồn sức mạnh mềm của Trung Quốc (2007), Bản dịch của Hồng Yến, Tạp chí những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới số 3-2008.
  4. Nguyễn Đức Tiến (2008), Sức mạnh mềm của Trung Quốc ở Châu Á, Tạp chí nghiên cứu quốc tế, Học viện Ngoại giao.
  5. Trần Văn Tùng ( 2011), Thể chế - Yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia.
  6. Joseph S. Nye( 2004), Soft power: The means to success in world politics and understand international conflict, New York
  7. Ian Goldin (2007), Globalization for Development. Trade, Finance, Aid, Migration, an Policy. World Bank and Palgrave Macmillan.

6. Public Diplomacy and Soft power (2008)

7. Steinbock Dan (2007). New Innovation challengers: The rise of /China and India, The National Interest 1-2007.



[1] NCS, Học viện Khoa học Xã hội

[2] J. S. Nye (1990) Sức mạnh mềm, chính sách đối ngoại.

[3] http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-trung-quoc/723-nguyn-c-tuyn

[4] http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-trung-quoc/723-nguyn-c-tuyn

Theo chienluoc.vn

 

0 Comments

Hỏi Chuyên gia Quantri.vn

Trong trường hợp đã là thành viên: Đặt câu hỏi miễn phí với chuyên gia Quantri.vn. Câu hỏi của thành viên sẽ được trả lời trong vòng 7 ngày. Trong trường hợp khẩn cấp, vui lòng liên hệ (08).22.49.49.49 Đặt câu hỏi
Tìm kiếm câu trả lời trước khi đặt câu hỏi

Danh sách chuyên gia

Tư vấn gần đây

Công cụ mới

Tài liệu mới