Khởi NghiệpChiến LượcNhân SựMarketing và Bán HàngCông NghệTài ChínhKỹ Năng

Kết quả

Cầu, cung và cân bằng trên thị trường lao động:

*Cầu về lao động và các yếu tố ảnh hưởng

- Cầu về lao động của doanh nghiệp

Cầu về lao động của một doanh nghiệp cho chúng ta biết lượng lao động mà doanh nghiệp sẵn lòng và mong muốn thuê mướn tương ứng với mỗi mức lương nhất định.

Doanh nghiệp cần lao động như một yếu tố đầu vào. Nó được sử dụng cùng với các yếu tố sản xuất khác để tạo ra các hàng hóa hay dịch vụ đầu ra mà doanh nghiệp mong muốn. Khi mua sắm các đầu vào lao động, doanh nghiệp không "mua" hẳn những người công nhân mà chỉ mua khả năng làm việc của họ trong những khoảng thời gian nhất định. Nói cách khác, doanh nghiệp chỉ mua dịch vụ lao động chứ không phải bản thân người lao động. Đối với thị trường lao động, hoạt động mua bán ở đây thực chất là hoạt động thuê mướn (doanh nghiệp là người đi thuê, còn người lao động là người cho thuê). Đối tượng mua bán là dịch vụ lao động - sự phục vụ của người công nhân trong một khoảng thời gian nào đó, thường được đo bằng số giờ lao động chẳng hạn.

Đường cầu về lao động của một doanh nghiệp chính là đường doanh thu sản phẩm biên của lao động. Đó là một đường dốc xuống, phản ánh tình trạng: khi tiền lương hạ xuống, để tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp có xu hướng sẵn sàng thuê mướn số lượng lao động nhiều hơn và ngược lại. Phân tích trực tiếp các yếu tố ảnh hưởng đến doanh thu sản phẩm biên của lao động, ta có thể quy các yếu tố chi phối cầu lao động của một doanh nghiệp về những yếu tố sau: Thứ nhất, quỹ máy móc, thiết bị và các yếu tố sản xuất khác mà lao động được sử dụng trong quá trình sản xuất. Nếu quỹ này tăng lên, nếu mỗi lao động trung bình được sử dụng nhiều vốn hiện vật hơn trước, sản phẩm biên (đôi khi có thể gọi là năng suất biên) của mỗi đơn vị lao động sẽ tăng lên. Cầu về lao động vì thế sẽ tăng lên và đường cầu lao động sẽ dịch chuyển sang phải. Trong trường hợp ngược lại, cầu về lao động sẽ giảm, đường cầu về lao động sẽ dịch chuyển sang trái. Thứ hai, trình độ công nghệ. Cách thức sản xuất được cải tiến hay trình độ công nghệ tăng cũng làm cầu về lao động tăng lên ngay cả khi quỹ vốn hiện vật vẫn giữ nguyên như cũ. Ở đây, tác động của công nghệ đến cầu về lao động cũng thông qua sự gia tăng sản phẩm biên của lao động. Thứ ba, biến động trên thị trường đầu ra. Giá sản phẩm đầu ra của lao động tăng lên, nếu các điều kiện khác giữ nguyên, cũng là yếu tố tác động trực tiếp đến sự gia tăng trong cầu về lao động. Khi đó, doanh thu sản phẩm biên của lao động tăng lên. Đường cầu về lao động sẽ dịch chuyển sang phải. Ngược lại, khi thị trường đầu ra ảm đạm, giá cả hàng hóa hạ xuống, cầu về lao động sản xuất đầu ra này cũng sẽ giảm theo. Trong trường hợp này đường cầu về lao động dịch chuyển sang trái.

- Cầu về lao động của ngành

Cầu về một loại lao động của một ngành được suy ra bằng cách tổng hợp các đường cầu riêng rẽ về loại lao động đó của các doanh nghiệp. Do sự thay đổi của giá cả trên thị trường đầu ra khi các doanh nghiệp trong ngành cùng một lúc thuê mướn thêm hay cắt giảm lao động, đường cầu lao động của ngành tuy dựa vào các đường tổng hợp theo chiều ngang các đường MVPL (mỗi đường chỉ gắn với một mức giá đầu ra nhất định) để thể hiện mình, song nó lại không phải chính là một đường nào đó trong số các đường trên. Nói chung nó là một đường dốc hơn so với các đường cộng theo chiều ngang nói trên.

- Cầu thị trường về một loại lao động thể hiện mức cầu trong toàn bộ thị trường (trong toàn bộ nền kinh tế) về loại lao động nói trên tương ứng với từng mức lương. Nếu đối tượng mà ta phân tích là một loại lao động đặc thù, chỉ làm việc trong một ngành nhất định thì cầu thị trường về lao động này cũng chính là cầu về lao động của ngành. Còn nếu đây là một loại lao động có thể làm việc ở các ngành khác nhau (ví dụ lái xe, thợ hàn, thợ điện...) thì cầu thị trường về lao động này được suy ra bằng cách cộng theo chiều ngang cầu lao động của các ngành.

* Cung về lao động

Cung về một loại lao động trên một thị trường cụ thể phản ánh các số lượng lao động sẵn sàng làm việc tương ứng với các mức lương khác nhau. Khi lượng lao động cung ứng chỉ xuất phát và liên quan đến một cá nhân, ta có cung lao động của một cá nhân. Vì đường cung trên thị trường về thực chất chỉ là tổng hợp theo chiều ngang các đường cung cá nhân nên việc hiểu các quyết định cá nhân về cung ứng lao động điểm xuất phát để chúng ta hiểu cung về lao động nói chung.

- Quyết định cá nhân về cung ứng lao động:

Đối với một cá nhân, trong một khoảng thời gian xác định, anh ta (hay chị ta) hoặc là làm việc để có một khoản thu nhập nào đó, hoặc là nghỉ ngơi, giải trí (hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả việc xem vô tuyến, đi du lịch hay thuần túy là ngủ). Vì tổng số giờ tự nhiên trong khoảng thời gian xem xét là cố định nên việc anh ta (hay chị ta) tăng số giờ làm việc của mình lên cũng đồng nghĩa với việc giảm số giờ nghỉ ngơi đi và ngược lại. Nói một cách khác, mỗi cá nhân luôn luôn phải lựa chọn có tính chất đánh đổi giữa hai phương án thay thế nhau: làm việc - lao động - một sự hy sinh thời gian nghỉ ngơi để có thêm thu nhập và nghỉ ngơi - một "hoạt động" tự nó đem lại cho con người độ thỏa dụng nhất định song lại phải hy sinh thời gian làm việc, do đó, gián tiếp hy sinh một khoản thu nhập nào đó.

Có thể áp dụng mô hình về sự lựa chọn của người tiêu dùng để phân tích sự lựa chọn của người lao động. Giờ đây, người này phải cân nhắc, lựa chọn không phải giữa hai hàng hóa thông thường mà là giữa hai "hàng hóa" đặc biệt: thu nhập (kiếm được nhờ làm việc) và nghỉ ngơi. Mỗi cá nhân đều có một sở thích nhất định, do đó có một tập hợp các đường bàng quan nhất định thể hiện sở thích hay quan điểm đánh đổi của mình giữa thu nhập và nghỉ ngơi. Sở thích khác nhau khiến cho hình dạng của các đường bàng quan là khác nhau giữa các cá nhân. Mặt khác, việc lựa chọn của người lao động không chỉ phụ thuộc vào sở thích. Anh ta (hay chị ta) còn bị sự ràng buộc ngân sách. Nếu w là mức lương thị trường của một giờ lao động, thì sự đánh đổi thị trường ở đây là: khi bớt đi một giờ nghỉ ngơi, do người lao động có thêm một giờ lao động nên anh ta (hay chị ta) sẽ có thêm một lượng thu nhập bằng w. Nếu nghỉ ngơi toàn bộ, lượng hàng hóa nghỉ ngơi của người lao động đạt mức tối đa và bằng tổng số giờ tự nhiên của khoảng thời gian mà ta phân tích, còn thu nhập mà anh ta (hay chị ta) có chỉ đơn giản là những khoản thu nhập phi lao động. Nếu dành tất cả thời gian cho làm việc, số giờ nghỉ ngơi bằng không, song thu nhập đạt mức cao nhất bao gồm cả thu nhập phi lao động lẫn thu nhập do lao động (khoản thứ hai này bằng số giờ làm việc nhân với w). Không quá đi sâu vào các chi tiết, áp dụng mô hình lựa chọn của người tiêu dùng vào trường hợp này giúp chúng ta có thể kết luận: điểm lựa chọn tối ưu của người lao động chính là điểm mà ở đó đường ràng buộc ngân sách tiếp xúc với một đường bàng quan nào đó. Tại điểm này, tỷ lệ đánh đổi thị trường giữa thu nhập (làm việc) và nghỉ ngơi (tức bớt 1 giờ nghỉ ngơi thì có thêm w đồng thu nhập và ngược lại) cũng chính bằng tỷ lệ đánh đổi về sở thích (sẵn sàng hy sinh bao nhiêu thu nhập để được thêm 1 giờ nghỉ ngơi và ngược lại). Nói cách khác, số giờ nghỉ ngơi và số giờ làm việc tối ưu của người lao động đạt được khi tại giờ nghỉ ngơi cuối cùng, người lao động vẫn giữ nguyên độ thỏa dụng nếu có thêm (hay bớt đi) 1 giờ nghỉ ngơi song lại bớt đi (hay có thêm) một lượng thu nhập là w.

Mức lương w là một yếu tố tác động đến điểm lựa chọn của người lao động. (Độ dốc của đường ngân sách trong trường hợp này có thể dễ dàng nhận thấy chính là - w). Khi w thay đổi, đường ràng buộc ngân sách của người lao động sẽ xoay. Và điểm lựa chọn tối ưu của anh ta (hay chị ta) sẽ thay đổi. Điều đó có nghĩa là số giờ anh ta (hay chị ta) sẵn sàng nghỉ ngơi hay làm việc phụ thuộc vào mức lương w. Nói cách khác, lượng lao động (số giờ làm việc) mà người này sẵn sàng cung ứng sẽ khác nhau tương ứng với những mức lương khác nhau.

Vậy khi tiền lương tăng (hay giảm) thì lượng cung lao động của một cá nhân sẽ thay đổi theo chiều hướng nào? Nếu ta chờ đón đường cung lao động của một cá nhân là một đường dốc lên như đường cung thông thường của các hàng hóa khác, thì ta phải dự đoán: khi tiền lương tăng, lượng cung lao động cũng sẽ tăng theo và ngược lại. Tuy nhiên, với đường cung về lao động, thực tế có phức tạp hơn đôi chút.

Khi tiền lương thay đổi người lao động sẽ bị tác động của hai hiệu ứng: hiệu ứng thu nhập và hiệu ứng thay thế. Chẳng hạn, khi tiền lương tăng lên, các điều kiện khác giữ nguyên nghĩa là thu nhập thực tế của người này tăng. Trở nên giàu có hơn, anh ta (hay chị ta) sẽ có khuynh hướng chi tiêu nhiều hơn cho các hàng hóa thông thường, đặc biệt là các hàng hóa cao cấp hay xa xỉ. Nghỉ ngơi là một loại hàng hóa như vậy. Khi thu nhập quá thấp, người ta không muốn nghỉ ngơi nhiều (trừ khi đó là đòi hỏi có tính chất sinh lý của cơ thể) mà luôn muốn được làm việc mỗi khi có thể để có thêm những đồng thu nhập ít ỏi nhằm duy trì sự tồn tại của mình và gia đình. Khi thu nhập cao hơn, khi không còn phải quá lo cho việc mưu sinh, người ta luôn muốn có nhiều thời gian nghỉ ngơi hơn. Càng giàu có, người ta càng muốn có nhiều thời gian nghỉ ngơi để làm những việc mình thích, để giải trí, để sử dụng những đồng thu nhập đã kiếm được. Vì thế, giả định nghỉ ngơi là một loại hàng hóa xa xỉ hay chí ít cũng là một loại hàng hóa thông thường là hoàn toàn hợp lý. Vì thế, khi tiền lương tăng lên, hiệu ứng thu nhập sẽ khiến người lao động muốn nghỉ ngơi nhiều hơn. Lượng lao động hay số giờ làm việc mà người này sẵn sàng cung ứng sẽ giảm. Mặt khác, khi tiền lương tăng lên cũng có nghĩa là chi phí cơ hội của một giờ nghỉ ngơi cũng tăng lên. Nghỉ ngơi trở nên đắt đỏ hơn trước. Lúc này hiệu ứng thay thế sẽ khiến cho người lao động có xu hướng thay thế nghỉ ngơi đang "đắt đỏ" lên một cách tương đối bằng phương án thay thế duy nhất: làm việc. Với tác động của hiệu ứng thay thế, người ta có xu hướng nghỉ ngơi ít hơn, và do đó, làm việc nhiều hơn. Trong trường hợp này, w tăng lại khiến lượng cung về lao động tăng.

Về mặt lý thuyết, hai hiệu ứng thu nhập và thay thế cùng phát huy tác dụng đồng thời khi tiền lương thay đổi. Việc hai hiệu ứng này tác động đến lượng cung lao động theo những chiều trái ngược nhau khiến cho người ta không thể kết luận được một cách chắc chắn rằng: khi w tăng, lượng cung lao động tăng hay giảm? Có ba khả năng xảy ra khi tiền lương tăng lên: 1) nếu hiệu ứng thay thế tỏ ra ảnh hưởng mạnh hơn đến các quyết định của người lao động thì cuối cùng, lượng cung lao động sẽ tăng. Đường cung lao động trong trường hợp này là một đường dốc lên. 2) Nếu hiệu ứng thay thế hoàn toàn triệt tiêu và cân bằng với hiệu ứng thu nhập thì lượng cung lao động sẽ không thay đổi. Trong quãng này, đường cung lao động là thẳng đứng. 3) Nếu hiệu ứng thay thế tác động yếu, hiệu ứng thu nhập trở nên nổi trội hơn, người lao động sẽ có khuynh hướng nghỉ ngơi nhiều hơn. Lương tăng rốt cục khiến anh ta (hay chị ta) làm việc ít đi. Đường cung lao động uốn vào phía sau và trở thành đường có độ dốc âm.

Quan sát thực nghiệm cho người ta thấy: khi mức lương xuất phát của người lao động là tương đối thấp, hiệu ứng thay thế thường trội hơn, do đó mức lương tăng lên kéo theo lượng cung lao động tăng; đường cung lao động khi này có xu hướng dốc lên. Còn khi người lao động đã có mức lương tương đối cao, hiệu ứng thu nhập thường ảnh hưởng mạnh. Nếu mức lương tiếp tục tăng, người ta sẽ sẵn lòng làm việc ít hơn (mức lương giờ cao cho phép người ta không cần làm việc nhiều giờ như trước) và đường cung lao động lúc này sẽ uốn vào phía sau. Tóm lại, đường cung lao động của một cá nhân về đại thể là một đường dốc lên song có một phần uốn về phía sau. Đó chính là đặc điểm nổi bật của đường này.

Khi nào đường cung lao động của cá nhân sẽ dịch chuyển? Nói cách khác, những yếu tố nào khiến cho cung lao động của mỗi cá nhân thay đổi: anh ta (hay chị ta) sẵn sàng làm việc nhiều hơn hay ít hơn ở những mức lương như cũ? Vận dụng mô hình lựa chọn của người tiêu dùng, ta có thể thấy một số yếu tố sau đây thường nằm sau đường cung lao động của một cá nhân: thứ nhất, sở thích hay quan điểm đánh giá cá nhân của người này về thu nhập (tiền bạc) và nghỉ ngơi. Sở thích khác nhau sẽ khiến cho đường bàng quan của mỗi người là khác nhau. Bởi vậy, tuy cùng đối diện với các mức lương thị trường như nhau, hai người khác nhau vẫn có thể có những lựa chọn giữa làm việc và nghỉ ngơi khác nhau, do đó có đường cung lao động khác nhau. Cũng với lập luận như vậy, có thể thấy đối với một cá nhân, khi sở thích của người này thay đổi, đường cung lao động của anh ta (hay chị ta) sẽ thay đổi hay dịch chuyển. Thứ hai, chi phí nuôi dưỡng, đào tạo... để hình thành khả năng (thể lực, kiến thức, kỹ năng..) làm việc của cá nhân. Nếu các điều kiện khác giữ nguyên, chi phí này tăng lên sẽ làm cho cung lao động cá nhân nói chung giảm. Khi chi phí để làm việc tăng lên, nghỉ ngơi sẽ rẻ đi một cách tương đối. Trong điều kiện như cũ, người lao động sẽ làm việc ít hơn ở mỗi mức lương. Không phải ngẫu nhiên mà nguồn cung lao động phổ thông, giản đơn, với chi phí đào tạo thấp thường dồi dào hơn so với nguồn cung lao động kỹ năng cao, đòi hỏi chi phí đào tạo lớn. Với loại lao động thứ nhất, đường cung nằm ở phía bên phải đường cung của dạng lao động thứ hai. Khi áp dụng lập luận này cho riêng một cá nhân, có thể kết luận một cách tổng quát là: nếu chi phí để tiếp cận công việc của người lao động tăng lên, đường cung lao động của anh ta (hay chị ta) sẽ dịch chuyển lên trên và sang trái; ngược lại, khi chi phí đó rẻ đi, đường cung lao động của người này sẽ dịch chuyển xuống dưới và sang phải.

- Cung ứng lao động nói chung cho nền kinh tế xét như một tổng thể

Xét cung lao động chung cho cả nền kinh tế (chưa phân chia lao động theo các nghề khác nhau), ta thấy một mặt nguồn cung lao động phụ thuộc vào quyết định cung ứng lao động của mỗi cá nhân khi họ tham gia vào lực lượng lao động - quyết định này cho biết một cá nhân trung bình trong lực lượng lao động sẵn sàng làm việc bao nhiêu giờ trong một năm với những mức lương xác định. Mặt khác, nó phụ thuộc vào số lượng người tham gia vào lực lượng lao động - tức lực lượng của những người hiện đang làm việc hay đang tìm kiếm việc làm. Về nguyên tắc, có thể dễ dàng thừa nhận rằng, với số giờ lao động xác định mà một cá nhân lao động trung bình sẵn sàng cung ứng trong khoảng thời gian 1 năm chẳng hạn, nguồn cung lao động chung của cả nền kinh tế sẽ tăng lên khi số lượng người tham gia trong lực lượng lao động tăng lên và ngược lại. Đến lượt mình, tổng số người tham gia vào lực lượng lao động lại phụ thuộc vào: 1) quy mô và cơ cấu dân số. Những thay đổi trong quy mô và cơ cấu dân số luôn luôn ảnh hưởng đến nguồn cung về lao động nói chung. Tỷ lệ tăng, giảm dân số tự nhiên hay cơ học (do hiện tượng nhập cư hay di cư) đều ảnh hưởng đến quy mô dân số. Cơ cấu dân số thường trực tiếp ảnh hưởng đến số lượng người ở trong độ tuổi lao động, có tiềm năng lao động. Một nước có cơ cấu dân số trẻ như Việt Nam trong thời kỳ hiện nay thường đối diện với sức ép về việc làm: số người bước vào độ tuổi lao động hàng năm tương đối cao cùng với sự gia tăng của quy mô dân số. Ở những nước phát triển như Nhật Bản chẳng hạn lại diễn ra một hiện tượng ngược lại: tỷ lệ người già tăng lên trong khi tỷ lệ người có khả năng lao động lại giảm xuống. 2) Tỷ lệ tham gia vào lực lượng lao động. Tỷ lệ tham gia cho chúng ta biết tỷ lệ phần trăm của nhóm dân cư nằm trong độ tuổi lao động quyết định tham gia vào lực lượng lao động. Với một quy mô dân số xác định, một số lượng người nhất định nằm trong độ tuổi lao động, tỷ lệ tham gia tăng có nghĩa là số lượng người tham gia lực lượng lao động tăng. Điều đó sẽ làm cho cung lao động nói chung của cả nền kinh tế tăng một khi các yếu tố khác được giữ nguyên.

Tỷ lệ tham gia vào lực lượng lao động chịu sự tác động của các yếu tố kinh tế, xã hội, văn hóa khác nhau. Trong một xã hội mà phụ nữ thực sự có quyền bình đẳng và có khả năng và điều kiện tham gia tích cực vào các công việc xã hội, người ta ít thấy sự khác biệt về tỷ lệ tham gia giữa phụ nữ và nam giới (mặc dù thường với những người phụ nữ đã lập gia đình, tỷ lệ tham gia vẫn thấp hơn so với tỷ lệ tham gia ở đàn ông) so với một xã hội mà ở đó chức năng của người phụ nữ được cho là chỉ phù hợp với những công việc nội trợ trong gia đình. Ở những nước hồi giáo, phụ nữ ít tham gia vào thị trường lao động, do đó, một bộ phận đáng kể dân số trong độ tuổi lao động đã đứng ngoài lực lượng lao động. Những yếu tố văn hóa - xã hội này rõ ràng tác động mạnh vào sở thích hay thái độ của các cá nhân, khiến cho quan niệm của họ về giá trị của thu nhập, của làm việc và nghỉ ngơi ở các nền kinh tế khác nhau cũng trở nên khác nhau. Trình độ phát triển kinh tế-xã hội chung cũng ảnh hưởng đến sở thích này. Khi phần đông dân cư đánh giá cao hơn các giá trị do nghỉ ngơi và thời gian nhàn rỗi mang lại, tỷ lệ tham gia vào lực lượng lao động sẽ có xu hướng giảm nếu không được các yếu tố khác bù đắp lại.

Ngoài yếu tố tác động đến sở thích chung của các cá nhân, tỷ lệ tham gia còn phụ thuộc vào: 1) thu nhập phi lao động nói chung của dân cư. Thu nhập do lao động không phải nguồn thu nhập duy nhất. Người ta có thể có những thu nhập từ việc cho thuê đất, gửi tiền tiết kiệm, mua chứng khoán, đầu tư bất động sản...Khi thu nhập phi lao động thay đổi, một hiệu ứng thu nhập thuần túy (không kèm theo hiệu ứng thay thế vì ở đây giá tương đối giữa một giờ làm việc và một giờ nghỉ ngơi không thay đổi) xuất hiện. Hiệu ứng này sẽ ảnh hưởng đến quyết định chi tiêu nói chung của dân cư về các hàng hóa, trong đó có hàng hóa "nghỉ ngơi". Chẳng hạn, khi thu nhập phi lao động giảm sút, người ta sẽ có xu hướng nghỉ ngơi ít đi, do đó muốn làm việc nhiều hơn. Tỷ lệ tham gia nhờ đó có xu hướng tăng. Ngược lại, khi thu nhập phi lao động tăng, người ta có xu hướng tiêu dùng nhiều hàng hóa "nghỉ ngơi" hơn, do vậy, tỷ lệ tham gia có thể giảm. 2) Chi phí cố định khi đi làm hay lao động. Đó là những khoản chi phí không phụ thuộc vào số giờ lao động cao hay thấp mà người lao động phải gánh chịu khi quyết định đi làm. Ví dụ, khi đi làm, những người trước đây được nhận các khoản trợ cấp thất nghiệp hay các trợ cấp xã hội khác phải từ bỏ các khoản trợ cấp này. Rõ ràng đây là một khoản chi phí cố định giống như chi phí đi lại, mua sắm trang phục để đi làm... Khi mức trợ cấp xã hội nói trên lớn, chi phí cố định của việc đi làm cao. Những người chỉ có khả năng tham gia hoạt động ở những khu vực có tiền lương thấp sẽ ít muốn tham gia vào lực lượng lao động. Nói cách khác, khi chi phí cố định của việc đi làm tăng lên, khi các điều kiện khác là giữ nguyên, tỷ lệ tham gia có xu hướng giảm và ngược lại. 3) Mức tiền công hay tiền lương thực tế. Sự thay đổi trong mức tiền lương thực tế trung bình trong nền kinh tế cũng ảnh hưởng đến mức độ tham gia của các cá nhân vào lực lượng lao động. Khi tiền lương thực tế trung bình tăng lên, một số người trước đây vẫn nằm ngoài lực lượng lao động sẽ được lôi cuốn vào lực lượng này do lợi ích tương đối của việc đi làm so với ở nhà nghỉ ngơi hoàn toàn tăng lên (chi phí cố định của việc đi làm giảm xuống một cách tương đối). Tỷ lệ tham gia vì thế cũng tăng lên. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, tiền lương thực tế ở nhóm có tiền lương cao tăng có thể khiến họ giảm số giờ lao động sẵn sàng cung ứng trong năm, mặc dù họ không hề muốn rút lui khỏi lực lượng lao động. Trong trường hợp này, số giờ lao động trung bình của một cá nhân cung cấp có thể giảm xuống chút ít. Tuy thế, do số người có mức lương cao và bị hiệu ứng thu nhập tác động mạnh như vậy có lẽ chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ nên chúng ta vẫn có thể khẳng định xu hướng chung là: khi tiền lương thực tế nói chung tăng lên, tỷ lệ tham gia và lượng lao động sẵn sàng cung ứng trong cả nền kinh tế tăng lên.

- Cung ứng lao động cho một ngành

Một ngành riêng biệt chỉ là một bộ phận của nền kinh tế. Cung lao động cho một ngành thường không tách rời các ngành khác vì lao động có khả năng di chuyển từ ngành nọ sang ngành kia. Trong trường hợp sự di chuyển này là hoàn toàn dễ dàng (ví dụ những người thợ hàn hay lái xe tải có thể dễ dàng chuyển từ ngành công nghiệp sản xuất ô tô sang ngành xây dựng và ngược lại mà gần như không cần bất cứ sự đào tạo bổ sung nào), sự chênh lệch tiền lương của loại lao động này trong các ngành khác nhau chỉ được phép duy trì khi nó phản ánh những đặc tính phi tiền tệ khác nhau giữa các ngành. Ví dụ, một người thợ hàn làm việc trong môi trường độc hại hơn, nguy hiểm hơn (do thường xuyên phải làm việc trên cao chẳng hạn), ở những nơi điều kiện sống khó khăn hơn (ngoài khơi, biên giới, hải đảo¼) được nhận tiền lương cao hơn so với một người thợ hàn tương tự song làm việc trong những điều kiện an toàn và có môi trường sống thuận lợi hơn. Vượt quá ngưỡng đó, sự khác biệt quá mức về tiền lương giữa các ngành khác nhau sẽ tạo ra sự di chuyển lao động từ nơi có tiền lương thấp đến nơi có tiền lương cao hơn. Bằng sự di chuyển này, trên toàn bộ nền kinh tế có một sự cân bằng nào đó (phản ánh trạng thái cầu và cung chung của cả nền kinh tế về loại lao động đó) để sự chênh lệch về lương giữa các ngành chỉ nhằm bù đắp lại những đặc tính phi tiền tệ. Có thể phân tích cung thị trường nói chung về một loại lao động nghề nghiệp cụ thể tương tự như phân tích cung lao động tổng thể cho cả nền kinh tế. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý một vài điểm khác biệt. Đối với một loại lao động có tính chất giản đơn, chỉ đòi hỏi kỹ năng lao động thấp, chi phí đào tạo không đáng kể, nguồn cung lao động nói chung rất dồi dào. Cung lao động dạng này khá co giãn. Chỉ cần tiền lương tăng lên chút ít, sẽ có nhiều cánh tay lao động sẵn sàng cung ứng. Đường cung lao động vì vậy tương đối nằm ngang. Đối với loại lao động phức tạp hơn, những kỹ năng lao động của nó đòi mất phải nhiều thời gian và tiền bạc để đào tạo hơn, nguồn cung về nguyên tắc tương đối khan hiếm hơn. Mặt khác, khi mức lương tăng lên, số lượng lao động có thể tham gia cung ứng không dễ dàng tăng lên nhanh và nhiều như trường hợp lao động giản đơn. Vì thế đường cung lao động loại này thường dốc đứng hơn.

Đối với một ngành nhỏ (hiểu theo nghĩa loại lao động chúng ta đang phân tích được sử dụng trong ngành chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ so với trong cả nền kinh tế), khả năng đáp ứng nhu cầu về lao động trong ngành từ cả nền kinh tế, xét một cách tương đối, là rất lớn. Ngành có thể thuê thêm lao động một cách dễ dàng mà hầu như không phải tăng lương. Đường cung lao động mà ngành đối diện có thể coi như một đường nằm ngang. Điều này cũng phản ánh một sự kiện: mức lương cân bằng chung của loại lao động này được quyết định trên phạm vi cả thị trường có tính chất liên ngành mà ngành chỉ là "kẻ chấp nhận giá". Chỉ ở những ngành lớn, nơi lao động thuộc một nghề nào đó được sử dụng một cách tập trung, cung lao động mới thể hiện rõ rệt như một đường dốc lên. Việc mở rộng hoạt động thuê mướn loại lao động này trong ngành sẽ đẩy mức tiền lương lên. Về cơ bản, việc di chuyển lao động từ các ngành khác đến coi như không đáng kể. Để có thể mở rộng lượng cung lao động của các cá nhân trong ngành, tiền lương lao động phải tăng lên, nhất là trong ngắn hạn khi mà nguồn cung lao động trong ngành tương đối cố định.

Đối với một số loại lao động mà kỹ năng làm việc là có tính chất tương đối đặc thù theo ngành, sự di chuyển lao động từ ngành này sang ngành kia là khó khăn, nhất là trong ngắn hạn. Ví dụ, lao động của những kiến trúc sư chỉ thích hợp với ngành xây dựng. Họ không thể làm việc theo đúng chuyên môn được đào tạo ở một ngành khác như ngành dệt, cơ khí... Hoặc nếu coi y tế là một ngành thì lao động của bác sỹ cũng là một loại lao động đặc thù. Các bác sỹ không thể dễ dàng chuyển sang ngành khác để hoạt động. Trong trường hợp này, các thị trường lao động nghề nghiệp bị cắt khúc theo ngành. Ngành không hy vọng hút được lao động từ ngành khác sang chỉ nhờ mức lương cao hơn. Đường cung về loại lao động này cho ngành phải là một đường dốc lên: Tiền lương phải cao hơn mới cuốn hút được số lượng lao động cung ứng nhiều hơn.

Nói chung đường cung lao động cho ngành trong dài hạn có xu hướng thoải hơn so với đường cung ngắn hạn. Trong ngắn hạn, số lao động làm việc trong ngành là tương đối cố định, đặc biệt là đối với các lao động cần được đào tạo. Lương tăng vẫn làm lượng cung về lao động tăng song chủ yếu dựa vào sự tăng số giờ lao động cung ứng của những người đang làm việc. Trong dài hạn, lương của một loại lao động trong một ngành tăng lên sẽ kéo theo và cuốn hút lao động từ các ngành khác chuyển sang cũng như những người nằm ngoài lực lượng lao động gia nhập vào ngành. Khi thời gian đủ dài, người ta có thể chuyển đổi nghề nghiệp từ lĩnh vực nọ sang lĩnh vực kia, miễn là sự khuyến khích về lương là đủ mạnh. Điều đó làm cho đường cung lao động dài hạn trở nên thoải hơn.

* Cân bằng trên thị trường lao động

- Cân bằng trên thị trường lao động của ngành.

Đối với một ngành, cầu và cung của ngành về một loại lao động cụ thể sẽ quyết định mức lương và số lượng lao động làm việc trong ngành. Với giả định thị trường lao động trong trường hợp này là thị trường cạnh tranh hoàn hảo và chính phủ không có hoạt động can thiệp nào, với đường cầu lao động của ngành là D1, đường cung lao động là S1 như trong hình 2, trạng thái cân bằng trên phạm vi ngành thoạt tiên là điểm E. Mức lương cân bằng trong ngành lúc này là w1, lượng lao động được thuê mướn là L1. Chỉ có tại điểm E thị trường mới ở trong xu hướng ổn định tương đối. Tại E không có hiện tượng dư cung hoặc dư cầu, do đó không có áp lực buộc thị trường phải dịch chuyển đến một trạng thái khác.

Những yếu tố tác động đến cung, cầu lao động của ngành, làm cho các đường này dịch chuyển sẽ làm cho trạng thái cân bằng của thị trường lao động trên phạm vi ngành thay đổi. Ví dụ, sự mở rộng nhanh chóng thị trường xuất khẩu cho các sản phẩm dệt may và sự nâng cấp công nghệ trong ngành khiến cho nhu cầu về lao động dệt tăng lên. Đường cầu về lao động của ngành sẽ dịch chuyển, chẳng hạn, từ đường D1 sang phải thành đường D2. Điểm cân bằng mới giờ đây chuyển về điểm F. Mức lương cũng như số lao động được thuê mướn cân bằng của ngành tăng lên tương ứng là w2 và L2.

Tuy nhiên, như ở trên chúng ta đã đề cập, lao động là yếu tố sản xuất mang tính chất cơ động, có thể di chuyển từ ngành nọ sang ngành kia. Sự di chuyển này đòi hỏi trạng thái cân bằng của ngành này phải tương hợp với ngành kia, nếu không áp lực thay đổi vẫn tồn tại. Giả sử cả hai ngành A và B đều sử dụng một loại lao động nghề nghiệp có kỹ năng giống hệt nhau. Trạng thái cân bằng riêng biệt ở thị trường lao động trong phạm vi ngành A xác lập một mức lương là w1A, trong khi đó cung cầu lao động trong ngành B lại xác lập tạm thời một mức lương cân bằng là w1B. Giả sử điều kiện làm việc ở hai ngành trên là tương tự nhau. Trong trường hợp này, nếu tiền lương giữa hai ngành mà khác biệt, hiện tượng di chuyển lao động từ ngành có mức lương thấp sang ngành có tiền lương cao hơn sẽ xuất hiện. Ví dụ, giả sử w1A lớn hơn w1B, một số lao động từ ngành B sẽ rút lui khỏi ngành để xin sang làm việc ở ngành A. Hiện tượng này sẽ làm cho cung lao động ở ngành A tăng lên, đường cung lao động của ngành dịch chuyển sang phải. Kết cục tiền lương ở ngành A sẽ hạ xuống. Ngược lại, cung lao động ở ngành B giảm xuống, đường cung lao động của ngành dịch chuyển sang bên trái. Nhờ đó, tiền lương của ngành tăng lên. Quá trình này dần dần làm cho tiền lương ở hai ngành xích lại gần nhau. Nếu sự di chuyển lao động giữa ngành nọ sang ngành kia là "hoàn hảo", chỉ khi sự khác biệt về lương giữa hai ngành bị xóa bỏ thì quá trình di chuyển lao động mới dừng lại. Khi đó, một trạng thái cân bằng chung giữa hai thị trường được xác lập với một mức lương thống nhất: w2A = w2B. Ở đây, chính sự di chuyển lao động giữa các ngành đã làm san bằng sự khác biệt về lương. Hệ quả chung là: nếu cung cầu lao động của một ngành thay đổi khiến cho tiền lương của lao động trong ngành tăng lên thì sự kiện này sẽ có xu hướng tác động đến mức lương ở các ngành khác. Áp dụng ví dụ ta vừa phân tích, có thể dễ dàng nhận thấy là: sự tăng lương ở ngành A sẽ lan tỏa và kéo theo sự tăng lương ở ngành B. 

Khi bàn về sự di chuyển lao động giữa các ngành, không nhất thiết ta chỉ giới hạn sự phân tích cho các lao động thuộc cùng một nghề giống nhau, nhưng làm việc ở các ngành khác nhau. Việc lấy ví dụ về lao động thuộc cùng một loại nghề nghiệp chỉ nhằm nhấn mạnh khả năng dễ di chuyển của lao động. Về nguyên tắc, khi lao động càng dễ dàng di chuyển từ ngành, nghề này sang một ngành, nghề khác, tiền lương giữa chúng càng ít khác biệt. Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều yếu tố ngăn cản sự di chuyển lao động. Vì thế, sự chênh lệch về lương giữa các ngành, nghề vẫn tồn tại. Chúng ta sẽ giải thích kỹ hơn vấn đề này ở phần sau. 

Nguồn: PGS.TS. Phí Mạnh Hồng (Quantri.vn biên tập và hệ thống hóa)

 

 

 

Đăng nhập

Hỏi Chuyên gia Quantri.vn

Trong trường hợp đã là thành viên: Đặt câu hỏi miễn phí với chuyên gia Quantri.vn. Câu hỏi của thành viên sẽ được trả lời trong vòng 7 ngày. Trong trường hợp khẩn cấp, vui lòng liên hệ (08).22.49.49.49 Đặt câu hỏi
Tìm kiếm câu trả lời trước khi đặt câu hỏi

Danh sách chuyên gia

Danh mục tư vấn