Khởi NghiệpChiến LượcNhân SựMarketing và Bán HàngCông NghệTài ChínhKỹ Năng

Kết quả

Cầu về các yếu tố sản xuất của một doanh nghiệp:

* Trường hợp một yếu tố sản xuất khả biến duy nhất (ngắn hạn):

Giả sử doanh nghiệp chỉ sử dụng hai yếu tố sản xuất vốn (K) và lao động (L) để sản xuất một loại hàng hóa nào đó. Trong ngắn hạn, ta giả định K là yếu tố sản xuất cố định, do đó sản lượng đầu ra của doanh nghiệp chỉ phụ thuộc vào lượng lao động được sử dụng. Nói cách khác, hàm sản xuất của doanh nghiệp có dạng: Q = f(L). Vấn đề ở đây là, doanh nghiệp phải lựa chọn lượng đầu vào lao động nào là tối ưu?

Khi sử dụng thêm một đơn vị lao động, lợi ích mà doanh nghiệp thu thêm được, tính bằng tiền, chính là doanh thu sản phẩm biên của đơn vị lao động này (MRPL). Để có được đơn vị lao động này, doanh nghiệp phải bỏ ra thêm một khoản chi phí mà ta có thể gọi là chi phí biên yếu tố của lao động MFCL. Đó chính là khoản chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra thêm khi sử dụng thêm một đơn vị yếu tố sản xuất (trong trường hợp này là lao động). Nếu doanh thu sản phẩm biên của đơn vị lao động này lớn hơn chi phí biên yếu tố của nó (tức MRPL > MFCL), rõ ràng việc thuê thêm thêm đơn vị lao động này là có lợi đối với doanh nghiệp: nhờ việc thuê thêm này, doanh nghiệp sẽ tăng được quỹ lợi nhuận của mình. Vì thế, về nguyên tắc, để tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp cần thuê thêm lao động chừng nào doanh thu sản phẩm biên của đơn vị lao động tăng thêm còn lớn hơn chi phi biên yếu tố của nó.

Lập luận một cách tương tự, chúng ta cũng dễ dàng nhận ra rằng, nếu tại đơn vị lao động cuối cùng, doanh thu sản phẩm biên nhỏ hơn chiphí biên yếu tố tương ứng (MRPL < MFCL) thì bằng việc không thuê đơn vị lao động này, doanh nghiệp lại tăng được lợi nhuận của mình. Nói cách khác, chừng nào MRPL nhỏ hơn MFCL, giảm số lao động thuê mướn sẽ làm tăng quỹ lợi nhuận của doanh nghiệp.

Kết hợp những điều trên lại, có thể rút ra kết luận: Để tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp phải sử dụng số lượng lao động sao cho tại đơn vị lao động cuối cùng, doanh thu sản phẩm biên phải bằng chi phí biên yếu tố :

MRPL = MFCL

Nguyên tắc này cũng áp dụng cho các yếu tố sản xuất khác. Chẳng hạn, lượng vốn tối ưu mà doanh nghiệp cần sử dụng cần thỏa mãn điều kiện: tại đơn vị vốn cuối cùng, doanh thu sản phẩm biên của vốn cũng phải bằng chi phí biên yếu tố của vốn (MRPK = MFCK). Hay nói tổng quát hơn, để tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp phải sử dụng một loại yếu tố sản xuất sao cho tại đơn vị yếu tố sản xuất cuối cùng, doanh thu sản phẩm biên và chi phí biên yếu tố của nó là bằng nhau.

Nếu thị trường đầu vào là thị trường cạnh tranh hoàn hảo, do đó, doanh nghiệp chỉ là người chấp nhận giá, thì khi thuê thêm một đơn vị yếu tố sản xuất, chi phí biên yếu tố mà nó phải bỏ ra chính là mức giá thuê thị trường. Trong trường hợp này, đường cung về loại yếu tố sản xuất này mà doanh nghiệp đối diện là một đường nằm ngang. Lượng yếu tố sản xuất mà nó thuê nhiều hay ít không tác động đến mức giá thuê. Chẳng hạn, nếu trên thị trường lao động, doanh nghiệp là người chấp nhận giá, thì khi thuê thêm một đơn vị lao động, chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra thêm chính là mức lương thị trường. Khi đó, điều kiện lựa chọn lượng đầu vào lao động tối ưu là: MRPL = w, trong đó w là mức lương thị trường của một đơn vị lao động.

Nói một cách tổng quát, nếu thị trường đầu vào là cạnh tranh hoàn hảo, điều kiện lựa chọn đầu vào tối đa hóa lợi nhuận đối với một doanh nghiệp là:

MRPi = hi (1)

trong đó MRPi là doanh thu sản phẩm biên của đơn vị yếu tố sản xuấtcuối cùng, còn hi chính là giá thuê thị trường của yếu tố sản xuất đó.

Đường cầu về một loại yếu tố sản xuất của doanh nghiệp

Giống như đường cầu về một loại hàng hóa mô tả mối quan hệ giữa lượng cầu và mức giá của hàng hóa, đường cầu về một loại yếu tố sản xuất của doanh nghiệp cho chúng ta biết các số lượng yếu tố sản xuất mà doanh nghiệp sẵn sàng thuê tại mỗi mức giá thuê nhất định.

Giả sử MRPi là đường doanh thu sản phẩm biên của yếu tố sản xuất i trong điều kiện các yếu tố sản xuất khác và trình độ công nghệ là xác định và không đổi. Thị trường yếu tố sản xuất i được giả định là thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Tham gia vào thị trường này, doanh nghiệp là người chấp nhận giá. Nếu giá thuê thị trường của đầu vào i hi, quy tắc tối đa hóa lợi nhuận mà ta đã phân tích ở trên cho thấy, lượng đầu vào i mà doanh nghiệp sẵn sàng thuê phải thỏa mãn điều kiện: tại đơn vịcuối cùng, MRPi = hi . Trên đồ thị 1, nếu hi = hi1, đường thẳng nằm ngang tương ứng với mức giá này tiếp xúc với đường MRPi tại một điểm A duy nhất cho thấy lượng đầu vào i mà doanh nghiệp cần thuê là i1 (i1 là hoành độ của điểm A), vì chỉ tại i1 điều kiện (1) mới thỏa mãn. Nếu hi hạ xuống thành hi2, đường thẳng nằm ngang tương ứng với mức giá mới này cắt đường MRPi tại hai điểm B B\'. Như vậy, tại cả hai mức đầu vào i2 và i2', điều kiện (1) đều thỏa mãn. Tuy nhiên, i2' tương ứng với phần đường MRPi đang đi lên, còn i2 tương ứng với phần đường MRPđang đi xuống. Phải chăng cả hai mức đầu vào này đều cho phép doanh nghiệp tối đa hóa được lợi nhuận? Câu trả lời là không phải như vậy. Khi đường MRPi đang đi lên, tại mức đầu vào i lân cận và nhỏ hơn i2' (i < i2'), ta có MRPi < hi2. Điều đó có nghĩa là, khi này nếu tăng mức sử dụng đầu vào i lên, lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ giảm. Ngược lại, tại mức i lân cận và lớn hơn i2', ta có MRPi > hi2. Điều đó cũng có nghĩa là, nếu khi này doanh nghiệp càng tăng mức sử dụng đầu vào i, lợi nhuận của nó sẽ càng tăng. Nói cách khác, nếu sử dụng đầu vào này đúng bằng i2', doanh nghiệp chỉ thu được mức lợi nhuận tối thiểu. Trái lại, khi giá thuê thị trường của đầu vào này là hi2, mức đầu vào cho phép doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận chính là i2, tương ứng với phần đường MRPi dốc xuống. Ở những giá trị i lân cận với i2, khi i < i2, ta có MRPi > hi2. Lúc này càng tăng i, doanh nghiệp càng tăng được lợi nhuận. Còn khi i > i2, vì MRPi < hi2 nên càng tăng i, doanh nghiệp càng bị giảm đi quỹ lợi nhuận. Chỉ tại i = i2, doanh nghiệp mới đạt được lợi nhuận tối đa. 

Lập luận tương tự, ta có thể thấy rằng, nếu giá thuê thị trường của đầu vào i hạ xuống thành hi3, đường thẳng nằm ngang tương ứng với mức giá này cắt phần dốc xuống của đường MRPi tại điểm C, có hoành độ là i3, hàm ý rằng, i3 chính là số lượng đầu vào i tối ưu mà doanh nghiệp cần thuê.

Bây giờ chúng ta thử nhìn lại các điểm A, B, C... Chúng đều là những điểm nằm trên phần dốc xuống của đường doanh thu sản phẩm biên của yếu tố sản xuất i. Mỗi điểm đều cho chúng ta biết số lượng đầu vào i mà doanh nghiệp cần và sẵn sàng thuê để tối đa hóa lợi nhuận tương ứng với các mức giá thị trường hi của đầu vào này. Nói cách khác, đó là những điểm khác nhau thuộc đường cầu về yếu tố sản xuất i của doanh nghiệp.

Như vậy, đường cầu về một loại yếu tố sản xuất của doanh nghiệp chính là phần dốc xuống của đường doanh thu sản phẩm biên của yếu tố sản xuất này.

Nếu thị trường đầu ra là thị trường cạnh tranh hoàn hảo, vì đường doanh thu sản phẩm biên của yếu tố sản xuất chính là đường giá trị sản phẩm biên nên chính phần dốc xuống của đường MVP này là đường cầu về yếu tố sản xuất của doanh nghiệp.

Giống như đường cầu về một loại hàng hóa, đường cầu của doanh nghiệp về một loại yếu tố sản xuất cũng là một đường dốc xuống. Khi giá thuê yếu tố còn cao, lượng cầu của doanh nghiệp về yếu tố này tương đối thấp. Khi giá thuê yếu tố hạ xuống, lượng cầu của doanh nghiệp về yếu tố trên tăng lên. Tính chất dốc xuống của đường cầu về yếu tố sản xuất bắt nguồn từ xu hướng doanh thu sản phẩm biên giảm dần. Khi giá thuê hcủa yếu tố sản xuất i hạ xuống, để điều kiện tối đa hóa lợi nhuận vẫn được thỏa mãn (tức điều kiện MRPi = hi), doanh nghiệp phải sử dụng số lượng i nhiều hơn, vì chỉ bằng cách đó, MRPi mới giảm xuống một cách tương ứng với hi.

Sự dịch chuyển của đường cầu về yếu tố sản xuất của doanh nghiệp: Với một đường cầu dốc xuống, sự dịch chuyển của nó lên trên và sang phải hàm ý cầu tăng (lượng cầu tăng ở mỗi mức giá). Ngược lại, sự dịch chuyển của nó xuống dưới và sang trái hàm ý cầu giảm (lượng cầu giảm ở mỗi mức giá). Vì đường cầu về một loại yếu tố sản xuất của doanh nghiệp là phần dốc xuống của đường doanh thu sản phẩm biên, nên những nguyên nhân làm dịch chuyển đường thứ hai cũng chính là những nguyên nhân làm đường thứ nhất dịch chuyển. Với những điều chúng ta đã biết, có thể tổng kết lại như sau:

Thứ nhất, cầu về một loại yếu tố sản xuất sẽ tăng (đường cầu về nó sẽ dịch chuyển sang phải và lên trên) khi quỹ các yếu tố sản xuất khác phối hợp với nó tăng lên và ngược lại. Chẳng hạn, khi các yếu tố sản xuất khác trở nên dồi dào hơn, sản phẩm biên của yếu tố sản xuất mà chúng ta đang xem xét tăng lên. Tại mỗi mức giá thuê, doanh nghiệp sẽ thấy có lợi hơn nếu sử dụng nhiều yếu tố sản xuất này hơn.

Thứ hai, cầu về một loại yếu tố sản xuất sẽ tăng khi trình độ công nghệ được cải thiện. Cũng giống như trường hợp trên, tiến bộ công nghệ cũng làm cho sản phẩm biên của yếu tố sản xuất mà ta đang phân tích tăng lên và điều này cũng kích thích doanh nghiệp sẵn sàng sử dụng nhiều hơn yếu tố sản xuất này ở mỗi mức giá của nó.

Thứ ba, cầu về một loại yếu tố sản xuất sẽ tăng khi cầu về hàng hóa đầu ra tương ứng tăng lên và ngược lại. Điều này liên quan đến sự thay đổi trong doanh thu biên hay mức giá của hàng hóa đầu ra và ảnh hưởng tương ứng của nó đến doanh thu sản phẩm biên của yếu tố sản xuất. Nó cho thấy cầu về yếu tố sản xuất chỉ là một loại nhu cầu phái sinh, do đó, sự thay đổi trong nhu cầu ở thị trường đầu ra không thể không tác động đến nhu cầu này.

* Trường hợp các yếu tố sản xuất đều khả biến (dài hạn)

Để đơn giản hóa, chúng ta vẫn giả sử doanh nghiệp chỉ sử dụng hai yếu tố sản xuất vốn (K) và lao động (L). Do đó, hàm sản xuất của doanh nghiệp có dạng Q = F(K,L). Trong dài hạn, doanh nghiệp có khả năng điều chỉnh mọi yếu tố sản xuất, vì thế, cả K lẫn L đều là khả biến. Trong điều kiện này, doanh nghiệp phải lựa chọn tổ hợp K L như thế nào để tối đa hóa được lợi nhuận?

- Phân tích chi phí - lợi ích:

Với mỗi mức vốn K cố định, cho trước, sản lượng đầu ra chỉ phụ thuộc vào mức đầu vào lao động L. Trong trường hợp này, chúng ta có thể áp dụng phép phân tích chi phí - lợi ích ứng với tình huống ngắn hạn ở trên. Mức lao động tối ưu mà doanh nghiệp cần thuê và sử dụng phải thỏa mãn điều kiện:                                

MRPL = MFCL                    (2)

Nói một cách khác, tại mỗi mức K xác định, để tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp phải lựa chọn mức lao động sao cho tại đơn vị lao động cuối cùng, doanh thu sản phẩm biên chính bằng chi phi biên yếu tố.

Lập luận một cách tương tự, ta có thể rút ra kết luận: Với mỗi mức lao động L xác định, lượng vốn tối ưu mà doanh nghiệp cần thuê và sử dụng nhằm tối đa hóa lợi nhuận chính là lượng vốn mà tại đơn vị vốn cuối cùng, doanh thu sản phẩm biên và chi phí biên yếu tố của nó là bằng nhau:

MRPK = MFCK                    (3)

Khi mà cả K L đều là khả biến, điều kiện lựa chọn tổ hợp (K,L) tối ưu chính là các đẳng thức (7.2) và (7.3) đồng thời phải được thỏa mãn. Nói cách khác, trong dài hạn, doanh nghiệp phải lựa chọn K L sao cho:

MRPL = MFCL                     (2)

và                              

MRPK = MFCK                    (3)

Nếu các thị trường đầu vào đều là thị trường cạnh tranh hoàn hảo và doanh nghiệp là người chấp nhận giá, điều kiện trên trở thành:

MRPL = w (2')

và                              

MRPK = r (3')

trong đó w r tương ứng là mức lương và giá thuê vốn tính theo mỗi đơn vị yếu tố sản xuất trên thị trường.

Ở phần trên, chúng ta biết rằng:

MRPL = MPL.MR                (4)

đồng thời                              

MRPK = MPK.MR               (5)

Do đó, các điều kiện (2') và (3') tương đương với:

MPL.MR = w

và                              

MPK.MR = r

từ đó ta có:                

MPL/MPK = w/r                  (6)

hay                            

MPL/w = MPK/r                  (7)

Đẳng thức (6) cho thấy, trong dài hạn, với tư cách là người chấp nhận giá trên các thị trường yếu tố sản xuất, doanh nghiệp phải lựa chọn các yếu tố này sao cho, tại đơn vị yếu tố sản xuất cuối cùng, tỉ lệ giữa các mức sản phẩm biên của các yếu tố này chính bằng tỷ lệ giữa các đơn giá thuê của chúng. Một cách tương đương, đẳng thức (7) nói lên rằng, ở điểm lựa chọn tối ưu, sản phẩm biên của mỗi đơn vị tiền tệ chi tiêu cho các yếu tố sản xuất phải bằng nhau.

- Phân tích hình học

Chúng ta cũng có thể đi đến kết luận tương tự bằng cách sử dụng các công cụ hình học: đường đẳng lượng và đẳng phí. Các giả định ở trên vẫn được giữ nguyên, tức là chúng ta vẫn xuất phát từ hàm sản xuất dài hạn đơn giản của doanh nghiệp Q = F(K,L).

Đường đẳng lượng là một đường mô tả các tổ hợp đầu vào (K,L) khác nhau mà sự kết hợp chúng cùng tạo ra một mức sản lượng đầu ra như nhau.

Trên đồ thị 5, số lượng vốn K được thể hiện trên trục tung, còn số lượng lao động L được thể hiện trên trục hoành. Mỗi một điểm trên mặt phẳng tọa độ (chú ý rằng, để có nghĩa, K L là những đại lượng không âm) biểu thị một tổ hợp (K,L) cụ thể. Giả sử để tạo ra một mức sản lượng đầu ra Q = 100, người ta có thể sử dụng các phương án kỹ thuật khác nhau. Ở phương án sử dụng nhiều vốn, người ta cần đến 10 đơn vị vốn và 5 đơn vị lao động. Trái lại, ở phương án sử dụng nhiều lao động, người ta chỉ cần 4 đơn vị vốn, song lại cần đến 20 đơn vị lao động. Vì đây là những phương án khác nhau cùng tạo ra 100 đơn vị sản lượng đầu ra nên các tổ hợp (L=5,K=10) và (L=20,K=4) sẽ là những điểm khác nhau cùng nằm trên một đường đẳng lượng.

Mỗi đường đẳng lượng đều gắn với một mức sản lượng đầu ra nhất định. Do K L có thể thay thế lẫn nhau - người ta chỉ có thể tạo ra lượng đầu ra như cũ khi số lượng vốn bị giảm nếu điều đó được bù đắp bằng số lượng lao động tăng lên và ngược lại - đường đẳng lượng là một đường dốc xuống. Quy luật sản phẩm biên của một loại yếu tố sản xuất có xu hướng giảm dần cho phép chúng ta hình dung hình dáng các đường đẳng lượng tương tự như hình dáng các đường bàng quan. Đó là những đường cong lõm, có đáy hướng về gốc tọa độ.

Để sản xuất ra một sản lượng đầu ra lớn hơn, nếu giữ nguyên mức vốn, người ta buộc phải sử dụng nhiều đầu vào lao động hơn hoặc nếu giữ nguyên số lượng đầu vào lao động, người ta cần có số lượng vốn lớn hơn. Như vậy, đường đẳng lượng gắn với một mức sản lượng đầu ra lớn hơn sẽ nằm ở phía ngoài đường đẳng lượng ứng với mức sản lượng đầu ra thấp hơn. Nói cách khác, càng tiến ra phía ngoài, đường đẳng lượng càng biểu thị mức sản lượng đầu ra lớn hơn.

Xét trên cùng một đường đẳng lượng, khi chúng ta di chuyển từ trái sang phải dọc theo đường này, ta thấy, lượng vốn giảm được bù đắp bằng lượng lao động tăng để sản lượng tạo ra vẫn không thay đổi. Ở đây tồn tại một sự đánh đổi, có tính chất thay thế nhau giữa K L về phương diện kỹ thuật. Khái niệm tỷ lệ thay thế biên kỹ thuật nói lên điều đó.

Tỷ lệ thay thế biên kỹ thuật giữa vốn và lao động (MRTS) cho biết số lượng vốn mà doanh nghiệp có thể giảm khi nó sử dụng thêm một đơn vị lao động mà vẫn không làm thay đổi mức sản lượng đầu ra.

MRTS = -(∆K/∆L)

Xét trên cùng một đường đẳng lượng, vì K L vận động ngược chiều nhau nên dấu "-" trong công thức trên nhằm đảm bảo tỷ lệ thay thế biên kỹ thuật là một đại lượng dương. Tỷ lệ này cho chúng ta biết một đơn vị lao động có thể thay thế được bao nhiêu đơn vị vốn. Đương nhiên, ở mỗi điểm xuất phát khác nhau, tỷ lệ thay thế biên kỹ thuật cũng khác nhau. Tại mỗi điểm trên đường đẳng lượng, MRTS chính là giá trị tuyệt đối độ dốc của đường đẳng lượng tại điểm nói trên.

Khái niệm tỷ lệ thay thế biên kỹ thuật MRTS có liên quan đến khái niệm sản phẩm biên của các yếu tố sản xuất. Giả sử chúng ta dịch chuyển từ một điểm A nào đó trên đường đẳng lượng tới một điểm B khác, lân cận cũng trên đường này. Sự dịch chuyển này kéo theo mức thay đổi trong lượng vốn sử dụng là ∆K và mức thay đổi trong lượng lao động sử dụng là ∆L. Ảnh hưởng thuần túy của việc thay đổi vốn đến sản lượng đầu ra là  ∆QK = MPK.∆K. Ảnh hưởng thuần túy của việc thay đổi lao động đến sản lượng đầu ra là ∆QL = MPL.∆L. Tuy nhiên, vì A B đều cùng nằm trên một đường đẳng lượng nên ảnh hưởng toàn bộ của việc thay đổi K L đối với sản lượng đầu ra là bằng 0. Do đó, ta có:

QK + ∆QL = MPK.∆K + MPL.∆L = 0

→-(∆K/∆L) = MPL/MPK

→MRTS       = MPL/MPK

Đường đẳng phí là một đường mô tả các tổ hợp đầu vào (K,L) khác nhau mà muốn có chúng, doanh nghiệp phải bỏ ra cùng một lượng chi phí như nhau.

Gọi C là chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để mua (thuê) các yếu tố sản xuất đầu vào K L. Nếu r w là mức giá thị trường tương ứng của các đầu vào này, thì các tổ hợp K L thỏa mãn phương trình sau sẽ nằm trên cùng một đường đẳng phí:

r.K + w.L = C (8)

hay                            

K = C/r - (w/r).L (8')

Như phương trình (8) hay (8') chỉ ra, đường đẳng phí sẽ là một đường thẳng , dốc xuống. Đây là một đường dốc xuống vì chúng ta chỉ có thể giữ nguyên mức chi phí C khi K tăng lên nếu L giảm xuống và ngược lại. Đây là một đường thẳng vì nó có độ dốc không đổi và bằng -(w/r).

Vị trí của đường đẳng phí phụ thuộc vào giá trị C. Khi C tăng lên, đường đẳng phí sẽ tịnh tiến ra phía ngoài và ngược lại. Còn khi tỷ số w/r thay đổi, đường đẳng phí sẽ xoay, phản ánh sự thay đổi trong độ dốc của nó.

Lựa chọn đầu vào tối ưu trong dài hạn của doanh nghiệp:

Phù hợp với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, có thể giả định rằng, hoặc doanh nghiệp phải lựa chọn các đầu vào K L sao cho có thể tối thiểu hóa chi phí C để sản xuất một mức sản lượng đầu ra Q cho trước; hoặc nó phải lựa chọn các đầu vào này sao cho có thể tối đa hóa được mức sản lượng đầu ra Q với một mức chi phí C cho trước.

Cách phân tích hai trường hợp này hoàn toàn tương tự nhau nên chúng ta chỉ cần xét trường hợp doanh nghiệp cần tối đa hóa sản lượng đầu ra với một mức chi phí đầu vào C cho trước.

Với giá trị C cho trước, tương ứng với các mức lương w và giá thuê vốn r, ta vẽ được một đường đẳng phí AB như trong hình 7. Doanh nghiệp đối diện với một hệ thống đường đẳng lượng Q1, Q2, Q3..., trong

đó mỗi đường gắn với một mức sản lượng đầu ra nhất định. Để tối đa hóa sản lượng đầu ra, điểm lựa chọn về các đầu vào của doanh nghiệp, một mặt, phải nằm trên đường đẳng phí AB, mặt khác, phải cho phép doanh nghiệp hoạt động được trên một đường đẳng lượng cao nhất có thể. Giống như cách chúng ta phân tích về sự lựa chọn tối đa hóa độ thỏa dụng của người tiêu dùng, tổ hợp các đầu vào (K,L) tối ưu sẽ tương ứng với điểm mà đường đẳng phí AB tiếp xúc với một đường đẳng lượng. Trên hình 7, điểm lựa chọn tối ưu chính là điểm E. Tương ứng, tổ hợp (L*,K*) chính là lượng lao động và vốn mà doanh nghiệp cần lựa chọn. Với các đầu vào này, doanh nghiệp có thể tạo ra sản lượng đầu ra cao nhất trong giới hạn mức chi phí C.

E là điểm tiếp xúc giữa đường đẳng phí AB và đường đẳng lượng nên tại E, độ dốc của hai đường này là bằng nhau. Do đó, tại điểm lựa chọn tối ưu này, ta có:                     

MRTS = w/r

Hay                     MPL/MPK = w/r hoặc MPL/w = MPK/r

Đây chính là các đẳng thức (6), (7) nói lên điều kiện cân bằng tối ưu giữa các yếu tố sản xuất mà chúng ta đã biết.

Đường cầu về các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp, xét trong dài hạn 

Như vậy, trong dài hạn, để tối đa hóa lợi nhuận, một doanh nghiệp chấp nhận giá trên các thị trường đầu vào phải đồng thời lựa chọn cả L và K sao cho: MRPL = w MRPK = r. Xét riêng từng yếu tố sản xuất, các đẳng thức vừa nêu cũng giống hệt như trong trường hợp ngắn hạn. Điểm khác biệt là ở chỗ: trong dài hạn, các yếu tố sản xuất đều có khả năng biến đổi, do đó, đường doanh thu sản phẩm biên của mỗi yếu tố sản xuất đều phụ thuộc vào mức sử dụng các yếu tố sản xuất khác. Nếu trong ngắn hạn, với lượng K cố định, ta có thể coi đường doanh thu sản phẩm biên của lao động MRPL là xác định (đương nhiên với một điều kiện xác định về trình độ công nghệ cũng như nhu cầu đầu ra), thì trong dài hạn, đường MRPL tùy thuộc vào mức K được sử dụng cũng như đường MRPK tùy thuộc vào mức L được sử dụng. Do vậy, mức sử dụng về một loại yếu tố sản xuất không chỉ bị tác động bởi sự thay đổi thuần túy trong mức giá của chính nó mà còn bị ràng buộc bởi điều kiện cân bằng giữa các yếu tố sản xuất. Vì thế, tuy các đường MRPL và MRPK vẫn được xem như là "cơ sở" của các đường cầu dài hạn của doanh nghiệp về lao động và vốn, song chúng không phải là một. Để rõ hơn, ta thử xét đường cầu dài hạn của doanh nghiệp về lao động.

Giả sử trên thị trường vốn, giá thuê vốn r đã xác định. Giờ đây chúng ta muốn biết lượng cầu về lao động của doanh nghiệp thay đổi như thế nào khi tiền lương thị trường thay đổi?

Khi mức lương là w1, giả sử các điều kiện (6) hay (7) (hai điều kiện này là hoàn toàn tương đương nhau) được thỏa mãn với L = L1 và K = K1. (Tại tổ hợp (L1,K1) ta có MPL/MPK = w1/r). Điểm A(L1,w1) nằm trên đường MRPL1, được vẽ gắn với điều kiện K = K1, chính là một điểm trên đường cầu dài hạn về lao động của doanh nghiệp mà chúng ta đang định xây dựng. Khi tiền lương thị trường hạ xuống thành w2, thoạt tiên khichưa thay đổi, mức cầu về lao động của doanh nghiệp sẽ tăng lên thành L2', tương ứng với sự di chuyển dọc theo đường MRPL1 tới điểm B, sao cho điều kiện MRPL = w2 được thỏa mãn. Tuy nhiên, khi mức lao động được sử dụng tăng lên, đường doanh thu sản phẩm biên của vốn MRPK không còn nguyên như cũ mà sẽ dịch chuyển lên trên và sang phải. Để đảm bảo điều kiện MRPK = r, giờ đây mức sử dụng K sẽ phải tăng lên.

Điều này lại làm đường MRPL dịch chuyển lên trên và sang phải. Mức sử dụng lao động L2' không còn là tối ưu và nó phải tăng lên. Quá trình này cứ tiếp tục cho đến khi điều kiện cân bằng giữa các yếu tố được xác lập trở lại với mức sử dụng L = L2 và K = K(tại tổ hợp (L2,K2) ta sẽ có MPL/MPK = w2/r). Như thế, tương ứng với mức lương w2, trong khi lượng cầu ngắn hạn về lao động là L2' thì trong dài hạn, nó là L2. Điểm C(L2,w2) là một điểm mới trên đường cầu dài hạn này. Trên đồ thị, C thuộc về đường MRPL2, gắn với điều kiện K = K2. Đường cầu về lao động nối liền các điểm A, C...là một đường thoải hơn so với các đường MRPL. Nói một cách khác, cầu dài hạn về một yếu tố sản xuất của doanh nghiệp có độ co giãn theo giá lớn hơn so với cầu ngắn hạn tương ứng. 

Nguồn: PGS.TS. Phí Mạnh Hồng (Quantri.vn biên tập và hệ thống hóa)

Đăng nhập

Hỏi Chuyên gia Quantri.vn

Trong trường hợp đã là thành viên: Đặt câu hỏi miễn phí với chuyên gia Quantri.vn. Câu hỏi của thành viên sẽ được trả lời trong vòng 7 ngày. Trong trường hợp khẩn cấp, vui lòng liên hệ (08).22.49.49.49 Đặt câu hỏi
Tìm kiếm câu trả lời trước khi đặt câu hỏi

Danh sách chuyên gia

Danh mục tư vấn