Khởi NghiệpChiến LượcNhân SựMarketing và Bán HàngCông NghệTài ChínhKỹ Năng

Kết quả

Nguồn gốc thị trường cạnh tranh không hoàn hảo:

Thị trường cạnh tranh hoàn hảo chỉ xuất hiện và tồn tại trong những điều kiện nhất định: số lượng doanh nghiệp tham gia lớn, quy mô của mỗi doanh nghiệp nhỏ; sản phẩm của các doanh nghiệp giống hệt nhau, có thể thay thế cho nhau một cách hoàn hảo; những người tham gia thị trường đều có thông tin hoàn hảo; các doanh nghiệp có thể dễ dàng gia nhập ngành cũng như rút lui khỏi ngành. Khi một trong những điều kiện này không được thỏa mãn, thị trường không phải là thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Khi đó, thị trường cạnh tranh không hoàn hảo sẽ xuất hiện. Như thế, nguồn gốc kinh tế của sự xuất hiện các thị trường cạnh tranh không hoàn hảo chính là các yếu tố phá vỡ các điều kiện cần thiết nuôi dưỡng thị trường cạnh tranh hoàn hảo nói trên.

* Lợi thế theo quy mô

Lợi thế theo quy mô phản ánh khoảng sản lượng mà ở đó, quy mô sản lượng càng tăng thì chi phí bình quân dài hạn càng hạ. Tuy nhiên, ở các ngành khác nhau, quy mô sản lượng tối thiểu có hiệu quả cũng khác nhau. Ở những ngành mà quy mô tối thiểu có hiệu quả tương đối nhỏ so với quy mô chung của thị trường, miền lợi thế theo quy mô của mỗi doanh nghiệp tương đối hẹp. Doanh nghiệp sớm vấp phải miền "bất lợi thế theo quy mô", tức là khoảng sản lượng mà ở đó, chi phí bình quân dài hạn tăng lên theo chiều hướng tăng của sản lượng. Trong những ngành như vậy, số lượng doanh nghiệp có thể cùng tồn tại khá nhiều. Ngành có thể là một ngành cạnh tranh hoàn hảo. Với những ngành mà quy mô tối thiểu có hiệu quả tương đối lớn so với quy mô chung của thị trường, đến một lúc nào đó, số lượng doanh nghiệp có thể cùng hoạt động trong ngành tương đối ít. Cạnh tranh trên thị trường sẽ loại bỏ nhiều doanh nghiệp và chỉ cho phép một vài doanh nghiệp sớm đạt được khả năng sản xuất ở quy mô sản lượng có hiệu quả trụ lại. Trong trường hợp này, ngành sẽ trở thành một ngành cạnh tranh không hoàn hảo. Thậm chí, ở những ngành như phân phối điện, sản lượng tối thiểu có hiệu quả thường lớn đến mức nó chỉ cho phép một doanh nghiệp duy nhất hoạt động trong ngành. Trong trường hợp như vậy, ngành trở thành ngành độc quyền thuần túy. Doanh nghiệp độc chiếm được thị trường nhờ lợi thế theo quy mô được gọi là doanh nghiệp độc quyền tự nhiên.

Tóm lại, do tính chất kỹ thuật, ở một số ngành, sản lượng cần tập trung vào một nhóm nhỏ các doanh nghiệp mới đảm bảo được hiệu quả kỹ thuật. Khi ngành chỉ dành chỗ cho một số ít, thậm chí là một doanh nghiệp hoạt động, nó trở thành ngành cạnh tranh không hoàn hảo. 

Với những ngành mà quy mô tối thiểu có hiệu quả của các hãng quá nhỏ (ví dụ q1 tương ứng với đường chi phí bình quân dài hạn LAC1), số lượng các hãng có thể duy trì được hoạt động của mình tương đối nhiều (tại mức giá hòa vốn P1, sản lượng q1 của từng hãng khá nhỏ so với sản lượng chung Q1 của thị trường). Trong một ngành mà đường chi phí trung bình dài hạn của một hãng là LAC2, số lượng hãng tồn tại dài hạn được trong ngành không nhiều. Còn khi LAC3 mới là chi phí trung bình dài hạn của một hãng, với đường cầu thị trường vẫn là D, về dài hạn ngành chỉ cho phép tồn tại một doanh nghiệp.

* Tính khác biệt của sản phẩm

Chúng ta đã biết, khi sản phẩm của các doanh nghiệp cùng hoạt động trong cùng một ngành khác biệt nhau, chúng không thể thay thế cho nhau một cách hoàn hảo (ví dụ, những người đã quen sử dụng dầu gội đầu nhãn hiệu "Sunsilk" không coi các loại dầu gội đầu khác là những vật có thể thay thế nó một cách hoàn hảo). Trong trường hợp này, một doanh nghiệp có thể tăng giá sản phẩm của mình trong một khoảng nhất định mà không bị mất đi những khách hàng quen. Nói cách khác, khi sản phẩm của mỗi doanh nghiệp đều khác biệt với sản phẩm của các đối thủ, mỗi doanh nghiệp riêng biệt dường như có một phân đoạn thị trường riêng. Thị trường chung bị chia cắt thành nhiều thị trường nhỏ. Trên mỗi "khúc" thị trường này, doanh nghiệp là người duy nhất cung ứng hàng hóa. Vì thế nó ít nhiều có khả năng chi phối giá. Thị trường như vậy sẽ là thị trường cạnh tranh không hoàn hảo.

* Những nguyên nhân có tính chất pháp lý ngăn cản cạnh tranh

Lợi thế quy mô lớn có thể tạo ra rào cản đối với việc gia nhập ngành của các doanh nghiệp mới. Việc các doanh nghiệp hiện hành trong ngành có khả năng sản xuất ở quy mô sản lượng có hiệu quả và quy mô này khá lớn so với quy mô chung của thị trường sẽ khiến cho các doanh nghiệp mới khó thâm nhập vào ngành. Trong trường hợp này, sự tự do xuất, nhập ngành không tồn tại.

Rào cản đối với việc tham gia vào ngành có thể bắt nguồn từ những ngăn trở có tính chất pháp lý do quy định pháp luật hay chính sách của Nhà nước. Có thể kể ra đây một số trường hợp điển hình.

+ Việc cấp giấy phép kinh doanh hạn chế.

Vì những lý do khác nhau, trong một số lĩnh vực, Nhà nước có thể chỉ cấp giấy phép kinh doanh cho một số ít doanh nghiệp. Ví dụ, ở Việt Nam chỉ có một số rất ít doanh nghiệp nhà nước được kinh doanh những mặt hàng như vũ khí, thuốc chữa bệnh, dịch vụ điện thoại... Trong trường hợp này, do số lượng doanh nghiệp tham gia hạn chế, thị trường sẽ không thể là thị trường cạnh tranh hoàn hảo.

+ Luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Trong nền kinh tế thị trường, các phát minh, sáng chế là một loại hàng hóa đặc biệt. Nhờ các phát minh, sáng chế mà con người tạo ra những tiến bộ không ngừng trong công nghệ và kỹ thuật sản xuất. Nhiều sản phẩm mới, với những tính năng ngày càng ưu việt ra đời; năng suất lao động của xã hội ngày càng được cải thiện. Tuy nhiên, để có những phát minh, sáng chế, người ta phải đầu tư nhiều công sức, tiền bạc, thời gian... với một độ rủi ro rất cao. Một phát minh mới ra đời, có khả năng ứng dụng trong thực tiễn sản xuất, có thể không đem lại lợi ích kinh tế đáng kể nào cho người tìm ra nó nếu những người khác có cơ hội sao chép, bắt chước và khai thác nó một cách dễ dàng. Trong trường hợp này, động cơ để từng cá nhân, doanh nghiệp đầu tư cho các phát minh, sáng chế bị suy yếu nghiêm trọng. Để khắc phục điều đó, việc bảo hộ các phát minh, sáng chế cũng như những sản phẩm trí tuệ khác được coi là một trong những giải pháp quan trọng. Với các luật về quyền sở hữu trí tuệ, những người nắm giữ các phát minh, sáng chế... được nhà nước bảo hộ độc quyền khai thác chúng trong một khoảng thời gian nhất định. Đây là một rào cản pháp lý để độc quyền (dù chỉ trong một số năm nhất định) sản xuất trong một số lĩnh vực được thiết lập.

Việc bảo hộ các phát minh, sáng chế... luôn là sự bảo hộ có thời hạn. Tính thời hạn ở đây liên quan đến sự cân nhắc của nhà nước trong việc bảo đảm sự hài hòa về lợi ích xã hội giữa việc khuyến khích tạo ra các phát minh, sáng chế với việc phổ biến rộng rãi chúng trong đời sống sản xuất xã hội.

+ Chính sách ngoại thương của Nhà nước.

Để bảo hộ một số ngành công nghiệp trong nước, Nhà nước có thể đánh thuế cao hoặc thiết lập những hàng rào phi thuế quan nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của hàng ngoại vào thị trường trong nước. Nếu trong ngành công nghiệp được bảo hộ, chỉ có một nhóm nhỏ doanh nghiệp trong nước đang kinh doanh, thì việc ngăn chặn thành công sự tham gia cạnh tranh của các doanh nghiệp nước ngoài có thể khiến cho ngành trở thành ngành cạnh tranh không hoàn hảo. Tuy nhiên, hiện nay cùng với tiến trình tự do hóa thương mại, việc tháo dỡ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu đã và đang trở thành những cam kết quốc tế mà hầu hết các nước chấp nhận thực hiện trong lĩnh vực thương mại.

+ Sở hữu tư nhân về một loại đầu vào đặc biệt khan hiếm

Một người sở hữu một mỏ khoáng sản quý hiếm, một mảnh đất duy nhất có khả năng trồng một loại cây đặc sản, một kỹ năng lao động đặc biệt để có thể chế tạo ra một loại hàng hóa (hay dịch vụ) độc đáo có thể trở thành người sản xuất độc quyền trên thị trường đầu ra nhờ sử dụng các đầu vào đặc biệt khan hiếm này. Việc thiết lập quyền sở hữu tư nhân về một loại đầu vào như vậy cũng có giá trị như một rào cản pháp lý đối với sự gia nhập ngành của những người sản xuất khác.

Ngoài những rào cản nói trên, những ngăn trở không chính thức đối với các đối thủ cạnh tranh tiềm năng (có thể là phi pháp) cũng làm cho thị trường không thể trở thành thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Ví dụ, những thỏa thuận không chính thức giữa một bên là một nhóm nhỏ các doanh nghiệp đang hoạt động và một bên là các nhà cung cấp một số đầu vào thiết yếu có thể khiến cho các đối thủ cạnh tranh tiềm năng không thể tiếp cận được các yếu tố đầu vào này. Trong trường hợp như vậy, sự tự do gia nhập ngành của các doanh nghiệp mới sẽ bị loại trừ. 

Nguồn: PGS.TS. Phí Mạnh Hồng (Quantri.vn biên tập và hệ thống hóa)

 

Đăng nhập

Hỏi Chuyên gia Quantri.vn

Trong trường hợp đã là thành viên: Đặt câu hỏi miễn phí với chuyên gia Quantri.vn. Câu hỏi của thành viên sẽ được trả lời trong vòng 7 ngày. Trong trường hợp khẩn cấp, vui lòng liên hệ (08).22.49.49.49 Đặt câu hỏi
Tìm kiếm câu trả lời trước khi đặt câu hỏi

Danh sách chuyên gia

Danh mục tư vấn