Khởi NghiệpChiến LượcNhân SựMarketing và Bán HàngCông NghệTài ChínhKỹ Năng

Kết quả

Các thước đo chi phí:

1. Tổng chi phí (TC)

Tổng chi phí để sản xuất ra một khối lượng hàng hóa nhất định là toàn bộ chi phí tối thiểu mà doanh nghiệp phải bỏ ra hay gánh chịu khi sản xuất khối lượng hàng hóa trên, trong một điều kiện kỹ thuật hay công nghệ nhất định.

Khi đề cập đến chữ "toàn bộ" trong khái niệm "tổng chi phí", người ta muốn gộp tất cả các chi phí riêng biệt, bộ phận có liên quan đến việc tạo ra một mức sản lượng hàng hóa nhất định lại với nhau. Điều đó cho ta hình dung được quy mô thực sự của những phí tổn mà doanh nghiệp phải gánh chịu. Tuy nhiên, khi định nghĩa tổng chi phí, trong kinh tế học người ta chỉ quan tâm đến các mức chi phí "tối thiểu", hiểu theo nghĩa là các mức chi phí thấp nhất mà doanh nghiệp có thể đạt được trong một điều kiện kỹ thuật hay công nghệ đã biết. Để tạo ra một mức sản lượng nhất định, ngay cả trong một điều kiện công nghệ nhất định, người ta vẫn có thể bỏ ra các mức chi phí khác nhau. Một người thợ may cẩu thả, tay nghề kém có thể cần tới 3 mét vải mới may nổi một chiếc áo sơ mi, trong khi đó, người khác chỉ cần tới 2 mét. Tuy nhiên, với một giới hạn nhất định về điều kiện kỹ thuật, để tạo ra một sản lượng nhất định về một loại hàng hóa nào đó, cần phải bỏ ra một chi phí tối thiểu nào đó. Khi giả định rằng, mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận, chúng ta ngầm định rằng, nó sẽ cố gắng đạt đến mức chi phí tối thiểu do chính phương diện kỹ thuật quy định này. Ở đây, chúng ta sẽ chỉ quan tâm đến các quyết định thuần túy về phương diện kinh tế mà các doanh nghiệp phải lựa chọn.

Ứng với một mức sản lượng, có một mức tổng chi phí. Khi cần sản xuất ra một lượng đầu ra lớn hơn, doanh nghiệp cần phải bỏ ra nhiều chi phí hơn. Vì thế cần coi tổng chi phí là một hàm số của sản lượng: TC = TC(q) trong đó, TC là ký hiệu của tổng chi phí, q biểu thị mức sản lượng đầu ra. Hàm tổng chi phí là một hàm đồng biến, thể hiện sự vận động cùng chiều của sản lượng và mức tổng chi phí. Đường tổng chi phí điển hình thường được xem là một đường cong bậc ba, mà phương trình tổng quát của nó có dạng:

Hình dung đường tổng chi phí như một đường cong bậc ba, các nhà kinh tế muốn nhấn mạnh đặc tính chung của các đường tổng chi phí là:

Thứ nhất, có một quan hệ đồng biến giữa TC và q; khi sản lượng thấp, mức tổng chi phí sẽ thấp và ngược lại, khi cần tăng sản lượng lên cao hơn, tổng chi phí cần bỏ ra cũng cao hơn. Điều này chúng ta đã đề cập. Thứ hai, khi sản lượng còn thấp, mặc dù khi gia tăng sản lượng, tổng chi phí sẽ tăng theo, song tốc độ tăng của tổng chi phí sẽ thấp hơn tốc độ tăng của sản lượng. Về mặt đồ thị, nếu biểu thị sản lượng trên trục hoành và biểu thị mức tổng chi phí trên trục tung, thì điều nói trên có nghĩa là: khi ta di chuyển sang bên phải (tăng sản lượng), thì đồng thời ta phải di chuyển lên trên (tăng mức tổng chi phí), song đường tổng chi phí có xu hướng di chuyển sang phải với tốc độ cao hơn là lên phía trên. Nói cách khác, trong phạm vi này, tỷ số ∆(TC)/∆q ngày càng giảm khi q tăng hay độ dốc của đường tổng chi phí có xu hướng giảm dần. Thứ ba, xu hướng vừa nói trên chỉ phù hợp trong pham vi một khoảng sản lượng nào đó. Khi sản lượng được sản xuất ra đã tương đối cao, tình hình sẽ thay đổi. Lúc này, nếu tiếp tục tăng sản lượng, sự gia tăng trong tổng chi phí sẽ nhanh hơn sự gia tăng trong sản lượng. Nói cách khác, tỷ số ∆(TC)/∆q sẽ ngày càng tăng theo chiều tăng của sản lượng q. Độ dốc của đường tổng chi phí giờ đây có xu hướng tăng dần. Đường tổng chi phí có xu hướng vươn nhanh lên trên hơn là vươn sang phải. Như vậy, đường tổng chi phí điển hình được hình dung là có hai khoảng, thể hiện hai xu hướng khác nhau trong sự thay đổi của độ dốc. Theo chiều tăng của sản lượng, thoạt đầu độ dốc của đường TC giảm dần. Tuy nhiên, quá một ngưỡng sản lượng nào đó, độ dốc của đường TC lại tăng dần. Điểm ranh giới của sự thay đổi này chính là điểm uốn của đường TC. Một đường cong bậc ba chính là một sự mô tả khá tốt những đặc tính trên của đường tổng chi phí.

Tại sao tổng chi phí lại có xu hướng vận động như thế? Về mặt ngắn hạn (thuật ngữ này sẽ được giải thích ở phần dưới) chẳng hạn, giả sử doanh nghiệp đã đầu tư xây dựng một số nhà xưởng và lắp đặt một hệ thống máy móc, thiết bị nhất định. Khi chỉ sản xuất với số lượng đầu ra tương đối nhỏ, doanh nghiệp chỉ cần sử dụng một số đơn vị lao động ít ỏi cũng như một lượng nguyên, nhiên, vật liệu hạn chế. Do sản lượng còn nhỏ, những đầu vào sẵn có, cố định khác như nhà xưởng, máy móc, thiết bị không được sử dụng hết công suất. Lúc này, nếu gia tăng sản lượng, mặc dù doanh nghiệp phải sử dụng nhiều lao động và nguyên,vật liệu hơn (và do đó, tổng chi phí vẫn phải tăng), song doanh nghiệp không phải đầu tư thêm vào nhà xưởng, máy móc, thiết bị do hoàn toàn có thể tận dụng được những năng lực sản xuất còn dư thừa của những yếu tố sản xuất này. Nói cách khác, tổng chi phí tuy tăng nhưng không tăng với tốc độ tương ứng của sản lượng. Hơn nữa, khi lao động được sử dụng nhiều hơn, người ta có thể tổ chức sản xuất hợp lý hơn dựa trên sự phân công và chuyên môn hóa sản xuất. Khi sản lượng còn quá thấp, khi doanh nghiệp chỉ cần sử dụng một lao động duy nhất là đủ để tạo ra khối lượng sản phẩm này, không có bất cứ sự chuyên môn hóa sản xuất nào thực hiện được. Với sản lượng lớn hơn, số lao động cần sử dụng nhiều hơn, giữa những lao động này có thể tiến hành phân công nhau để mỗi người có thể tập trung, chuyên môn hóa vào một số khâu, hay một số công đoạn nào đó của quá trình sản xuất.

Sự chuyên môn hóa này  làm năng suất lao động chung tăng lên: người ta có thể tạo ra nhiều đầu ra hơn trên mỗi đơn vị đầu vào lao động mà không cần sự hỗ trợ của các đầu vào khác. Như vậy, trong một giới hạn nào đó về sản lượng, (ví dụ, trong phạm vi q nhỏ hơn q* như trên đồ thị hình 1, tăng sản lượng sẽ làm chi phí tăng song với một nhịp độ chậm hơn so với tốc độ tăng của sản lượng).

Tuy nhiên, quá trình như vậy không tiếp diễn Khi sản lượng còn nhỏ hơn sản lượng q*, tốc độ tăng của sản lượng sẽ lớn hơn tốc độ tăng của tổng chi phí. Khi sản lượng lớn hơn q*,  tốc độ tăng của sản lượng sẽ nhỏ tốc độ tăng của tổng chi phí. mãi. Quá một ngưỡng nào đó về sản lượng, chẳng hạn, khi sản lượng vượt quá mức q*, việc tiếp tục tăng sản lượng sẽ đòi hỏi doanh nghiệp phải bỏ ra những khoản chi phí lớn, khiến cho mức gia tăng về chi phí sẽ cao hơn mức gia tăng về sản lượng. Một cách giải thích đơn giản về vấn đề này là: khi sản lượng đã đủ lớn, sự dư thừa các năng lực sản xuất của các yếu tố đầu vào cố định không còn nữa. Vả lại, quá một giới hạn nhất định, sự chuyên môn hóa sâu hơn trong quá trình sản xuất không còn phát huy hiệu quả và trở nên không cần thiết. Quy mô sản xuất lớn hơn khiến cho bộ máy quản lý trở nên cồng kềnh hơn và chi phí quản lý tăng nhanh. Quy luật hiệu suất giảm dần bắt đầu tỏ rõ hiệu lực của mình. Những đầu vào như lao động, nguyên vật liệu cần bỏ ra nhiều hơn để duy trì một mức tăng đầu ra như trước. Lúc này, tốc độ tăng của sản lượng sẽ chậm hơn tốc độ tăng của chi phí.

Việc giải thích ý nghĩa kinh tế nằm sau đường tổng chi phí như trên sẽ giúp chúng ta dễ dàng hiểu các đường chi phí khác.

2. Chi phí bình quân (ATC)

Chi phí bình quân biểu thị mức chi phí tính trung bình cho mỗi đơn vị sản lượng. Nó bằng tổng chi phí chia cho mức sản lượng:

ATC(q) = TC(q) : q

Rõ ràng chi phí bình quân cũng là một hàm số của sản lượng. Tùy theo mức sản lượng q, ta có các mức chi phí bình quân khác nhau. Về mặt toán học, nếu ta đã giả định đường tổng chi phí điển hình có hình dạng của một đường cong bậc ba, thì đường chi phí bình quân ATC điển hình sẽ có hình dạng một đường cong bậc hai. Thông thường người ta hay nói, ATC là một đường hình chữ U. Thật ra, với cách nói này, người ta chỉ muốn nhấn mạnh rằng, nói chung, một đường chi phí trung bình thường có hai phần: thoạt đầu, ứng với quy mô sản lượng còn tương đối nhỏ, càng tăng sản lượng q lên thì chi phí bình quân ATC càng giảm xuống. Nói cách khác, lúc này, ATC có khuynh hướng đi xuống. Tuy nhiên, khi đã đạt đến một ngưỡng sản lượng nào đó, việc tiếp tục tăng sản lượng q sẽ làm cho chi phí bình quân ATC tăng lên. Khi đó, đường ATC sẽ có khuynh hướng đi lên. Hình 2 cho ta một hình dung về một đường ATC.

 

Hình dạng chữ U của đường chi phí bình quân ATC có quan hệ chặt chẽ với hình dạng đường tổng chi phí TC. Khi mà tổng chi phí tăng chậm hơn tốc độ tăng của sản lượng khi doanh nghiệp muốn sản xuất nhiều đầu ra hơn, tỷ số TC(q)/q hay ATC(q) sẽ có xu hướng giảm dần. Đường chi phí bình quân sẽ đi xuống. Ngược lại, khi tăng sản lượng cũng đồng thời làm cho tổng chi phí gia tăng nhanh hơn, chi phí bình quân sẽ tăng dần. Đường chi phí bình quân sẽ đi lên.

3. Chi phí biên (MC)

Chi phí biên biểu thị phần chi phí tăng thêm khi sản xuất thêm một đơn vị sản lượng đầu ra. Nó cho chúng ta biết mức phí tổn mà doanh nghiệp phải bỏ ra hoặc hy sinh thêm để đánh đổi lấy việc có thêm được một đơn vị đầu ra.

Ví dụ, nếu tổng chi phí cho việc in 300 cuốn sách là 15.000 nghìn đồng (tức 15 triệu đồng), còn tổng chi phí của việc in 301 cuốn sách là 15.030 nghìn đồng, thì trong trường hợp này, để có thêm cuốn sách thứ 301, người ta phải bổ sung thêm một khoản chi phí là 30 nghìn đồng.

Điều đó có nghĩa là chi phí biên của việc in cuốn sách thứ 301 là 30 nghìn đồng. Nói một cách khác, chi phí biên của đơn vị sản phẩm thứ q là:

MCq = TCq - TC(q-1)

trong đó TCq biểu thị tổng chi phí khi doanh nghiệp sản xuất q đơn vị đầu ra, còn TC(q-1) biểu thị tổng chi phí khi doanh nghiệp sản xuất (q-1) đơn vị đầu ra.

Khi hình thức hóa dưới dạng một công thức toán học, người ta hình dung rằng, có thể tính được chi phí biên tại từng điểm sản lượng q bất kỳ và định nghĩa chi phí biên theo công thức sau:

MC(q) = ∆TC(q)/∆q

trong đó ∆ biểu mức thay đổi của các biến số. Theo công thức trên, khi sự thay đổi trong q là tương đối nhỏ, chi phí biên MC tại mức sản lượng q, chính là giá trị đạo hàm của TC(q) tính tại điểm sản lượng q.

Là một hàm số của sản lượng, đương nhiên, mức chi phí biên phụ thuộc vào mức sản lượng. Tại các điểm sản lượng khác nhau, chi phí biên cũng khác nhau. Đường chi phí biên, về đại thể, cũng là một đường cong hình chữ U: thoạt tiên, với sản lượng xuất phát thấp, đường chi phí biên có xu hướng đi xuống khi sản lượng tăng. Đến một mức sản lượng nào đó, xu hướng ngược lại sẽ diễn ra. Khi này, nếu sản lượng tiếp tục tăng, chi phí biên sẽ tăng dần và đường chi phí biên trở thành một đường đi lên. Hình dáng này của đường chi phí biên cũng có nguồn gốc từ những lý do kinh tế giải thích hình dáng đường tổng chi phí hay đường chi phí bình quân. Khi sản lượng xuất phát còn quá thấp, sự dư thừa năng lực hay công suất của một số yếu tố sản xuất cố định cũng như một số lợi thế khác liên quan đến việc tăng quy mô sản lượng (ví dụ, lợi thế chuyên môn hóa...) khiến cho việc sản xuất thêm một đơn vị sản lượng không cần phải bổ sung thêm chi phí tương ứng như mức chi phí mà mỗi đơn vị sản lượng ban đầu đòi hỏi. Chi phí biên của mỗi đơn vị sản lượng gia tăng về sau nhỏ hơn các đơn vị sản lượng trước đó. Chi phí biên giảm dần theo đà tăng của sản lượng. Về sau, khi những lợi thế nói trên được khai thác hết, những chi phí mới xuất hiện do quy mô sản lượng quá lớn, chi phí biên chắc chắn sẽ tăng lên khi sản lượng tăng. Có thể nói, các xu hướng diễn tiến của đường chi phí biên thực chất cũng chính là xu hướng diễn tiến của các đường tổng chi phí hay chi phí bình quân. Hoàn toàn có thể suy ra hình dáng của đường này từ những đường kia.

4. Quan hệ giữa các đường TC, ATC và MC

Hãy xuất phát từ một đường TC như trên hình 4. Một điểm như điểm A có hoành độ là q1 và tung độ là TC1. Điều đó có nghĩa là tổng chi phí để sản xuất một khối lượng hàng hóa q1 chính là TC1. Theo định nghĩa, tại mức sản lượng này, chi phí bình quân là TC1/q1. Mức chi phí này có thể đo bằng tga, với a là góc hợp thành bởi tia OA và trục hoành.

Nó cũng chính là độ dốc của tia OA. Khi sản lượng còn thấp (q <q*), tốc độ gia tăng của tổng chi phí còn chậm hơn tốc độ gia tăng của sản lượng, thì chi phí bình quân cũng có xu hướng giảm dần. Điều này thể hiện ở độ dốc của tia xuất phát từ O đến một điểm trên đường tổng chi phí giảm dần. Tuy nhiên, chi phí bình quân đạt đến giá trị thấp nhất khi tia nối từ gốc tọa độ O với một điểm tương ứng trên đường TC trở thành tiếp tuyến của TC (q lúc này bằng q*). Khi sản lượng tiếp tục tăng,(q > q*), độ dốc của các tia nói trên tăng dần. Điều này phản ánh chi phí bình quân đang tăng dần và đường ATC có xu hướng đi lên.

 MC tại một mức sản lượng q chính là giá trị TC, MC đạo hàm của hàm TC tại mức sản lượng q đó, nên MC chính là độ dốc của đường TC tại mỗi điểm q. Độ dốc này cũng có thể đo bằng độ dốc hay hệ số góc của đường tiếp tuyến với đường cong TC tại mỗi điểm sản lượng q. Thoạt tiên, độ dốc của đường TC giảm dần nói cho chúng ta biết MC đang trong xu hướng giảm dần. Sau đó, đường TC lại càng ngày càng dốc hơn, và thông tin ấy tương ứng với việc MC rốt cục lại tăng lên.

Đường chi phí biên MC cũng có quan hệ thú vị với đường chi phí bình quân AC. Quan hệ này có thể phát biểu như sau: Đường chi phí biên MC luôn luôn cắt đường chi phí bình quân ATC tại điểm tương ứng với mức ATC tối thiểu.

Đường MC luôn đi qua điểm E, tại đó ATC là tối thiểu

Giả sử đường chi phí biên MC và đường chi phí bình quân ATC cắt nhau tại điểm E tương ứng với một mức sản lượng dương qE nào đó.

Chúng ta phải chứng minh rằng chi phí bình quân ATC tại mức sản lượng qE là thấp nhất. Thật vậy, khi sản lượng còn nhỏ, ứng với miền ATC đi xuống, đường chi phí biên MC phải nằm dưới đường chi phí bình quân ATC, hay tại mỗi điểm sản lượng chi phí biên phải nhỏ hơn chi phí bình quân tương ứng. Điều này thể hiện một quan hệ số học đơn giản giữa thước đo biên và thước đo trung bình: chính vì chi phí bổ sung thêm (chi phí biên) để sản xuất thêm một đơn vị sản lượng thấp hơn mức chi phí bình quân của mức sản lượng trước đó, việc sản xuất thêm đơn vị sản lượng này sẽ kéo mức chi phí bình quân chung xuống. Nói cách khác, chừng nào MC còn nhỏ hơn ATC, việc gia tăng sản lượng còn làm ATC giảm. Bằng lập luận tương tự, cũng có thể nói: chừng nào MC lớn hơn ATC (đường chi phí biên nằm trên đường ATC), việc gia tăng sản lượng sẽ kéo ATC tăng lên, và đường ATC đi dần lên. Tại điểm sản lượng qEMC bằng ATC, đường ATC ngừng đi xuống song cũng chưa đi lên. Do vậy, đó là mức sản lượng mà ATC đạt giá trị thấp nhất. 

Nguồn: PGS.TS. Phí Mạnh Hồng (Quantri.vn biên tập và hệ thống hóa)

 

Đăng nhập

Hỏi Chuyên gia Quantri.vn

Trong trường hợp đã là thành viên: Đặt câu hỏi miễn phí với chuyên gia Quantri.vn. Câu hỏi của thành viên sẽ được trả lời trong vòng 7 ngày. Trong trường hợp khẩn cấp, vui lòng liên hệ (08).22.49.49.49 Đặt câu hỏi
Tìm kiếm câu trả lời trước khi đặt câu hỏi

Danh sách chuyên gia

Danh mục tư vấn