Khởi NghiệpChiến LượcNhân SựMarketing và Bán HàngCông NghệTài ChínhKỹ Năng

Kết quả

Cân bằng cầu - cung:

Trên thị trường, người mua thường muốn mua rẻ, còn người bán thường muốn bán đắt. Những nhóm người này có thể đề nghị những mức giá khác nhau. Không phải mức giá nào cũng đem lại sự hài lòng chung cho cả người mua lẫn người bán. Trong trạng thái không được thoả mãn, khi coi mức giá hình thành trên thị trường là thấp so với mức giá mà mình trông đợi, như quy luật cung chỉ ra, người bán sẽ phản ứng bằng cách cắt giảm sản lượng cung ứng. Ngược lại, một khi mức giá hình thành trên thị trường được coi là cao so với mức giá dự kiến, phù hợp với quy luật cầu, người tiêu dùng sẽ có xu hướng cắt giảm lượng hàng hoá mà anh ta (hay chị ta) dự định mua. Những phản ứng kiểu như vậy tạo ra một sự tương tác lẫn nhau giữa người mua và người bán, giữa cầu và cung. Rốt cục, thị trường sẽ vận động về một trạng thái cân bằng, theo đó một mức giá và một mức sản lượng cân bằng sẽ được xác lập.

Cân bằng thị trường là một trạng thái trong đó giá cả và sản lượng giao dịch trên thị trường có khả năng tự ổn định, không chịu những áp lực buộc phải thay đổi. Đó cũng là trạng thái tạo ra được sự hài lòng chung của cả người mua lẫn người bán. Tại mức giá cân bằng, sản lượng hàng hoá mà những người bán sẵn lòng cung cấp ăn khớp hay bằng với sản lượng mà những người mua sẵn lòng mua (vì thế, sản lượng này cũng được gọi là sản lượng cân bằng). Trên đồ thị, điểm cân bằng được xác định bằng chỗ cắt nhau của đường cầu và đường cung. Trên hình 1, điểm E chính là điểm cân bằng, còn P* Q* là mức giá và sản lượng cân bằng.

Trên một thị trường có tính chất cạnh tranh, có nhiều người mua, nhiều người bán, đồng thời không có sự can thiệp của nhà nước, giá cả thị trường sẽ có xu hướng hội tụ về mức giá cân bằng - mức giá mà tại đó, lượng cầu bằng chính lượng cung

Ví dụ:

Giả sử thị trường đang ở trong trạng thái chưa cân bằng. Chẳng hạn, trên thị trường thịt bò mức giá đang là 50 nghìn đồng/kg. Tại mức giá này, lượng cầu mà những người tiêu dùng mong muốn là 55.000 kg hay 55 tấn. Song cũng tại mức giá này, những người sản xuất chỉ sẵn lòng cung cấp 10.000 kg hay 10 tấn thịt bò. Lượng cung nhỏ hơn lượng cầu biểu thị trạng thái không ăn khớp giữa kế hoạch cung cấp của những người sản xuất và kế hoạch mua hàng của những người tiêu dùng. Trong trường hợp ví dụ trên, một số người tiêu dùng sẽ không mua được thịt bò ở mức mà họ mong muốn. Ở đây tồn tại một sự thiếu hụt về hàng hoá hay dư thừa về cầu. (Mức dư cầu được đo bằng sự chênh lệch giữa lượng cầu và lượng cung. Trong ví dụ trên, mức dư cầu là 45 tấn). Sự thiếu hụt hàng hoá sẽ tạo ra áp lực cạnh tranh mạnh mẽ giữa những người mua. Để mua được hàng, một số người tiêu dùng nào đó sẽ đề nghị một mức giá cao hơn và điều đó sẽ tạo ra áp lực đẩy giá cao lên. Với mức giá cao hơn, những người bán sẽ được khuyến khích để gia tăng lượng cung (nếu giá thịt bò tăng lên thành 60 nghìn đồng/kg, lượng cung thịt bò sẽ tăng lên thành 20 tấn). Đồng thời, tại mức giá mới này, người mua sẵn sàng mua ít hàng hơn trước (lượng cầu thịt bò bây giờ chỉ còn 50 tấn). Sự thiếu hụt hàng hoá được cắt giảm (lượng cầu thịt bò dư thừa tại mức giá này tuy vẫn còn, song đã giảm xuống thành 30 tấn). Nếu sự thiếu hụt hàng hay dư  cầu vẫn còn, thì áp lực tăng giá P (nghìn đồng/kg) vẫn tồn tại. Áp lực này chỉ mất đi, xu hướng tăng giá hàng hoá trên thị trường chỉ dừng lại khi giá đạt đến mức cân bằng. Khi đó, sản lượng trở thành sản lượng cân bằng: lượng cầu bằng lượng cung. Ở thị trường thịt bò nói trên, điều này xảy ra khi giá thịt bò là 80 nghìn đồng/kg và sản lượng thịt bò là 40.000 kg hay 40 tấn.

Khi mức giá trên thị trường còn cao hơn giá cân bằng thì tình hình cũng diễn ra theo một cách tương tự như vậy. Ở mức giá cao hơn giá cân bằng, lượng cung về hàng hoá sẽ vượt quá lượng cầu về hàng hoá. Trong trường hợp này, một lượng hàng hoá mà người bán muốn bán lại không tìm được người mua. Sự ế thừa hàng hoá kiểu này được gọi là sự dư cung. Nó làm cho hay tạo ra sức ép khiến những người bán phải hạ giá hàng hoá. Quá trình hạ giá này sẽ dần dần làm giảm mức dư cung và chỉ dừng lại khi mức giá trên thị trường đã hạ xuống đến mức giá cân bằng.

Như vậy, sự phân tích trên cho thấy, nếu thị trường chưa đạt tới trạng thái cân bằng, trong nó sẽ chứa đựng những áp lực buộc nó phải thay đổi: giá cả phải tăng lên hay hạ xuống để lượng cầu dần dần phải khớp với lượng cung. Chỉ khi đạt đến điểm cân bằng, thị trường mới đi đến được trạng thái tương đối ổn định. Nói cách khác, thị trường có xu hướng tự điều chỉnh để đạt tới trạng thái cân bằng. Vì thế, khi nói đến giá cả người ta ít quan tâm đến những mức giá ngẫu nhiên khác nhau mà thường chú ý đến mức giá cân bằng. Không phải lúc nào thị trường cũng luôn luôn ở trạng thái cân bằng cũng như giá luôn luôn là giá cân bằng. Tuy nhiên, trên thị trường, giá có xu hướng vận động về mức giá cân bằng. Trong sự dao động lên, xuống thất thường của giá cả, mức giá cân bằng hiện ra như một "mỏ neo" mà người ta phải nắm bắt. Trên một thị trường, nó được xác lập thông qua sự tương tác lẫn nhau của tất cả những người sản xuất và tiêu dùng. Cách nói: giá cả thị trường là do cung cầu trên thị trường quyết định chính là một sự diễn đạt khác về điều này.

Vai trò của giá cả

Cũng qua sự phân tích trên, ta thấy được vai trò quan trọng của giá cả. Chính nhờ sự thay đổi linh hoạt của giá cả mà thị trường đạt đến được trạng thái cân bằng. Sở dĩ giá cả thực hiện được điều đó vì:

Thứ nhất, sự thay đổi của giá cả luôn tác động đến hành vi của người tiêu dùng. Khi mức giá tăng lên, người tiêu dùng có xu hướng cắt giảm nhu cầu tiêu dùng của mình. Ngược lại, khi mức giá hạ xuống, người tiêu dùng được khuyến khích gia tăng mức sử dụng hàng hoá. Giá hàng hoá cao sẽ khiến cho người tiêu dùng phải cân nhắc nhiều hơn mỗi khi ra quyết định mua sắm, đồng thời có ý thức tiết kiệm hơn trong việc tiêu dùng hàng hoá. Ngược lại, khi giá một loại hàng hoá được xem là quá thấp, người tiêu dùng sẽ có khuynh hướng sử dụng hàng hoá một cách "hào phóng" hơn.

Thứ hai, sự biến động của giá cả cũng luôn ảnh hưởng đến hành vi của những người sản xuất. Giá hàng hoá tăng cao sẽ khuyến khích người sản xuất gia tăng sản lượng hàng hoá. Giá hàng hoá hạ xuống thấp lại tạo ra áp lực buộc những người này phải cắt giảm sản lượng.

Thứ ba, trong nền kinh tế thị trường, sự lên xuống linh hoạt của hệ thống giá cả chính là một "kênh" thông tin hữu ích về tình hình thị trường để những người sản xuất và tiêu dùng ra quyết định. Khi giá của một loại hàng hoá đang tăng, nó có thể là một tín hiệu cho thấy sự thiếu hụt hàng hoá trên thị trường (do nhu cầu về hàng hoá gia tăng hay do nguồn cung hàng hoá thiếu hụt). Trong trường hợp này, việc mở rộng sản xuất hay hạn chế tiêu dùng là thích hợp không chỉ với cá nhân những người sản xuất, tiêu dùng mà cả với xã hội nói chung. Còn khi giá của một loại hàng hoá đang đi xuống, đó sẽ là "thông điệp" của thị trường về sự dư thừa tương đối của hàng hoá. Dựa trên "thông điệp" này, phản ứng cắt giảm lượng hàng hoá cung ứng của người sản xuất hay mở rộng tiêu dùng của người tiêu thụ được thực hiện.

Thứ tư, trong quan hệ giữa các thị trường với nhau, sự vận động của hệ thống giá cả còn tạo ra một cơ chế phân bổ nguồn lực hữu hiệu. Dựa vào sự lên xuống của các mức giá, nguồn lực được phân bổ cho các ngành kinh tế khác nhau theo hướng: ở ngành nào mà giá tương đối của hàng hoá (so với giá của các hàng hoá khác) càng cao (chứng tỏ nhu cầu tương đối của xã hội về hàng hoá này càng lớn), thì ở đó càng thu hút được nhiều nguồn lực của xã hội và ngược lại.

Thứ năm, vai trò cung cấp thông tin nhằm tạo ra một cơ chế phân bổ nguồn lực kiểu như vậy của giá cả là cực kỳ quan trọng đối với nền kinh tế. Nó làm cho giá cả trở thành tín hiệu có khả năng kết nối các quyết định riêng rẽ của hàng nghìn, hàng triệu cá nhân khác nhau trong nền kinh tế với nhau nhằm tạo ra sự cân đối hay ăn khớp với nhau giữa cung và cầu, giữa sản xuất và tiêu dùng. Sự vận động của giá cả hướng về mức giá cân bằng nói lên khả năng tự vận hành, tự điều chỉnh của nền kinh tế thị trường. 

Nguồn: PGS.TS. Phí Mạnh Hồng (Quantri.vn biên tập và hệ thống hóa)

 

Đăng nhập

Hỏi Chuyên gia Quantri.vn

Trong trường hợp đã là thành viên: Đặt câu hỏi miễn phí với chuyên gia Quantri.vn. Câu hỏi của thành viên sẽ được trả lời trong vòng 7 ngày. Trong trường hợp khẩn cấp, vui lòng liên hệ (08).22.49.49.49 Đặt câu hỏi
Tìm kiếm câu trả lời trước khi đặt câu hỏi

Danh sách chuyên gia

Danh mục tư vấn