Khởi NghiệpChiến LượcNhân SựMarketing và Bán HàngCông NghệTài ChínhKỹ Năng

Kết quả

Mô hình hệ thống thông tin quản lý - Phần 1:

Bước 1- Xác định nhu cầu thông tin

Nhu cầu thông tin là số lượng và các loại thông tin môi trường bên trong và bên ngoài cần thu thập để đáp ứng nhu cầu ra quyết định của nhà quản trị các cấp, phù hợp với không gian, thời gian và ngân sách của doanh nghiệp trong từng kỳ.

Thông tin môi trường kinh doanh rất đa dạng và phong phú, nhưng giá trị sử dụng của chúng đối với việc ra quyết định thì khác nhau giữa các doanh nghiệp, giữa các bộ phận chức năng, giữa các cấp quản trị trong từng doanh nghiệp¼ Vì vậy, để bảo đảm hiệu quả quản lý thông tin, những người chịu trách nhiệm quản lý hệ thống thông tin cần yêu cầu nhà quản trị các cấp, các bộ phận chuyên môn xác định rõ những loại thông tin cần thu thập để phục vụ cho việc ra các quyết định có liên quan. Yêu cầu đáp ứng thông tin là đảm bảo đủ thông tin cần thiết, có quá nhiều hoặc thiếu thông tin đều không tốt; đảm bảo tính chính xác cần thiết của các thông tin và đảm bảo cung cấp thông tin đúng thời gian cần thiết.

Để tập hợp hệ thống thông tin, trước hết phải phân loại chúng. Có thể phân chia toàn bộ thông tin phân tích và dự báo chiến lược kinh doanh theo các tiêu thức khác nhau.

Nếu theo tiêu thức thời gian sẽ phân toàn bộ thông tin thành hai loại là thông tin về quá khứ cho đến thời điểm hiện tại và thông tin về dự báo tương lai.

Nếu theo phạm vi sẽ phân hệ thống thông tin phù hợp với cách phân chia cấp độ môi trường để phân tích và dự báo chiến lược kinh doanh. Có doanh nghiệp phân chia toàn bộ môi trường kinh doanh thành bốn cấp là môi trường quốc tế, môi trường kinh tế quốc dân, môi trường ngành và môi trường bên trong doanh nghiệp, do đó hệ thống thông tin phải được thu thập theo bốn cấp độ phù hợp. Có doanh nghiệp chọn cách phân chia môi trường kinh doanh thành hai loại là môi trường bên ngoài và môi trường nội bộ nên hệ thống thông tin cũng phải phân chia tương ứng.

Bước 2- Xác định các nguồn cung cấp thông tin

Thông tin môi trường được phân chia thành hai loại: thông tin thứ cấp và thông tin sơ cấp, mỗi loại có thể tìm kiếm từ các nguồn cung cấp ở bên trong và/hoặc bên ngoài doanh nghiệp.

Thông tin thứ cấp là những thông tin đã được thu thập sẵn nhằm phục vụ một nhu cầu nào đó trong nội bộ Doanh nghiệp hoặc của các tổ chức, các cá nhân bên ngoài. Bộ phận quản lý thông tin có thể tìm kiểm, lựa chọn loại thông tin thứ cấp phù hợp để đáp ứng nhu cầu ra quyết định của các nhà quản trị.

Thông tin sơ cấp là những thông tin thu thập được từ các cuộc nghiên cứu, các đợt khảo sát; người thu thập phải tiến hành xử lý ban đầu, xác định độ tin cấp để đưa vào sử dụng.

Trong thực tế, chi phí thu thập thông tin thứ cấp thường rẻ và thời gian gian thu thập

nhanh hơn so với chi phí và thời gian thu thập thông tin sơ cấp. Vì vậy, tuỳ theo nhu cầu thực tế, các nhà quản trị có thể quyết định chọn nguồn cung cấp thông tin thứ cấp và sơ cấp phù hợp ở bên trong hoặc bên ngoài doanh nghiệp, hoặc kết hợp tất cả các nguồn. Căn cứ vào hiệu quả kinh tế và tốc độ đáp ứng nhu cầu thông tin, các nhà quản trị thường quyết định tìm thông tin thứ cấp trước, sau đó là thông tin sơ cấp. Về nguồn cung cấp, thứ tự ưu tiên được chọn như sau:

- Nguồn cung cấp thông tin thứ cấp nội bộ

Đây là nguồn cung cấp thông tin về các hoạt động của Doanh nghiệp rất phong phú và đa dạng, sẵn có, không hao tốn chi phí thu thập (nếu có thì rất ít). Nguồn này bao gồm: các chứng từ thu - chi, các hoá đơn bán hàng, các hoá đơn mua hàng, các báo cáo về hoạt động tài chính của Doanh nghiệp, các báo cáo thanh toán với khách hàng hoặc với các nhà cung cấp, báo cáo về hoạt động nhân sự, các báo cáo bán hàng ở các khu vực thị trường, ngân hàng dữ liệu (tích luỹ thông tin khảo sát những lần trước)...

Nguồn cung cấp này có lợi thế là dễ tìm kiếm và không tốn chi phí. Vì vậy, sau khi xác định nhu cầu các loại thông tin cần thu thập, công việc đầu tiên của những người có trách nhiệm là xem xét các dữ liệu có trong nội bộ, tìm kiếm những dữ liệu thích hợp và xử lý để đáp ứng nhu cầu thông tin cần thiết cho việc ra quyết định của các nhà quản trị.

- Nguồn cung cấp thông tin thứ cấp bên ngoài

Phần lớn các nguồn thông tin thứ cấp bên ngoài cung cấp các dữ liệu chứa đựng những thông tin về các yếu tố của môi trường bên ngoài có ảnh hưởng đến hoạt động của Doanh nghiệp như thông tin về: khách hàng, hoạt động của các đối thủ cạnh tranh, hoạt động của các nhà cung cấp, các điều khoản của các văn bản luật pháp quốc gia hoặc quốc tế có giá trị tại quốc gia thị trường, các chính sách của chính phủ, các báo cáo kinh tế - tài chính - xã hội của quốc gia,¼ Tuỳ theo nhu cầu thông tin và phạm vi cung cấp dịch vụ của Doanh nghiệp, các nhà quản trị quyết định lựa chọn nguồn cung cấp thông tin thứ cấp bên ngoài phù hợp. Chi phí thu thập thông tin thứ cấp từ các nguồn bên ngoài có sự khác nhau và thường là không cao.

Các nguồn cung cấp thông tin thứ cấp bên ngoài chủ yếu như:

- Các cơ quan trong bộ máy quản lý Nhà nước từ Trung ương đến các địa phương.- Các tổ chức quản lý ngành kinh tế.

- Các cơ quan thuộc các ngành có liên quan (Ví dụ: y tế, giáo dục, bảo vệ môi trường...).

- Hiệp hội ngành nghề.

- Các cơ quan truyền thông đại chúng: báo viết, báo hình, báo nói¼ - Các tổ chức kinh doanh thông tin qua phương tiện viễn thông.

- Sách tham khảo, các công trình nghiên cứu, các tài liệu của các tổ chức cạnh tranh,...

Trong thực tế, nguồn cung cấp thông tin thứ cấp bên ngoài rất đa dạng, cung cấp nhiều loại thông tin về môi trường kinh doanh trên phạm vi quốc gia và quốc tế. Các nhà quản trị thông tin môi trường cần xây dựng mạng lưới để tiếp cận với tất cả các nguồn cung cấp có khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin thứ cấp cho Doanh nghiệp. Những thông tin từ các nguồn này được thu thập thường xuyên, xử lý và sắp xếp theo danh mục để có thể cung cấp kịp thời cho các nhà quản trị.

- Nguồn cung cấp thông tin sơ cấp nội bộ 

Khi nguồn cung cấp thông tin thứ cấp chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu các loại thông tin, những người có trách nhiệm sẽ quyết định tìm kiếm thông tin sơ cấp, trong đó, nguồn thông tin sơ cấp nội bộ được ưu tiên lựa chọn trước vì thế cơ bản của nó là dễ tìm và chi phí ít.

Thông tin sơ cấp nội bộ do các thành viên trong Doanh nghiệp cung cấp thông qua sự hiểu biết môi trường kinh doanh và sự tiếp cận trong công việc hàng ngày. Những người cung cấp thông tin sơ cấp nội bộ bao gồm cả nhà quản trị lẫn người thừa hành thuộc các bộ phận chức năng, các chi nhánh của doanh nghiệp ở các khu vực thị trường. Chẳng hạn, nhà quản trị marketing các khu vực có thể cho biết ý kiến về tiềm năng khai thác và phát triển thị trường các sản phẩm, nhà quản trị nguồn nhân lực có thể cho biết khả năng thu hút thêm lao động giỏi ở các địa phương hoặc khả năng nâng cao năng suất của lực lượng lao động hiện tại, đại diện thương mại hay nhân viên bán hàng có thể cung cấp thông tin về nhu cầu và mong muốn của khách hàng hoặc phản ứng của họ đối với các sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp, những nhu cầu mới phát sinh, những phát hiện về hoạt động của đối thủ cạnh tranh, người đi mua hàng phục vụ sản xuất tiếp cận với các nhà cung cấp nên họ có khả năng dự báo về những công nghệ mới, những nguyên liệu mới có thể ra đời trong thời gian tới,...

Nguồn thông tin sơ cấp nội bộ rất quan trọng và có giá trị trong thực tế. Vì vậy, để có nguồn thông tin này thường xuyên, các nhà quản trị chiến lược cần quan tâm và tôn trọng ý kiến của các thành viên trong nội bộ và có chính sách đãi ngộ thích đáng đối với những nguồn thong tin đem lại lợi ích cụ thể cho doanh nghiệp.

- Nguồn cung cấp thông tin sơ cấp bên ngoài

Thông tin sơ cấp bên ngoài có thể được cung cấp từ các nguồn như: khách hàng, các nhà cung cấp có mối quan hệ mua bán lâu dài, các đối thủ cạnh tranh, những nhà tư vấn, những tổ chức trung gian marketing...Thông tin sơ cấp được cung cấp từ bên ngoài có lợi thế là đa dạng, ý kiến mang tính khách quan. Tuy nhiên, điểm bất lợi là mất nhiều thời gian và chi phí để thu thập, khi sử dụng phải thẩm tra lại cẩn thận.

Trong thực tế, các nhà quản trị hệ thống thông tin chỉ quyết định thu thập nguồn thông tin này khi cả ba nguồn trên chưa đáp ứng đủ nhu cầu thông tin để ra các quyết định quản trị. Ví dụ: để thực hiện chiến lược phát triển thị trường mới, các nhà quản trị cần phải có thông tin về khách hàng và các đối thủ cạnh tranh ở khu vực thị trường mới nhằm quyết định hỗn hợp marketing. Bộ phận quản lý hệ thống thông tin bắt buộc phải lập dự án nghiên cứu marketing để thu thập ý kiến của khách hàng (sử dụng bằng câu hỏi để phỏng vấn các nhóm khách hàng tiêu biểu). Mặt khác, nhân viên của hệ thống còn đi thu thập thông tin về các hoạt động của từng đối thủ cạnh tranh chủ yếu trên thị trường mới (mua hàng của đổi thủ cạnh tranh đề phỏng vấn người bán hàng của họ, tình báo kinh tế...). Hoặc để giữ vững thị phần trên thị trường, doanh nghiệp cần có thông tin về các phản ứng của khách hàng để kịp thời điều chỉnh. Vì vậy, hệ thống thông tin phải thu thập thường xuyên ý kiến khách hàng qua bộ phận dịch vụ khách hàng hay qua phiếu thăm dò (các câu hỏi ngắn)...

Bước 3- Xây dựng hệ thống thông tin

Hệ thống thông tin là mạng lưới thu thập thông tin môi trường của doanh nghiệp. Nhiệm vụ của hệ thống là tiến hành tìm kiếm các nguồn cung cấp có khả năng đáp ứng nhu cầu về thông tin môi trường để thu thập các dữ liệu, tiến hành phân loại, xử lý và cung cấp cho các nhà quản trị có liên quan.

Để xây dựng hệ thống thông tin hữu hiệu, các nhà quản trị lần lượt thực hiện những công việc như sau:

- Xác định nhiệm vụ của hệ thống thông tin.

Trong đó, xác định rõ nhiệm vụ tổng quát của bộ phận này trong mối quan hệ với các bộ phận chức năng chuyên môn khác của Doanh nghiệp, nhiệm vụ của từng nhóm và từng thành viên trong mạng lưới thu thập thông tin.

- Xác định những mục tiêu cần đạt được của hệ thống thông tin bao gồm các mục tiêu định lượng và định tính.

- Xây dựng cơ cấu tổ chức của hệ thống thông tin.

Cơ cấu này bao gồm các bộ phận trong mạng lưới thu thập thông tin ở bên trong và bên ngoài doanh nghiệp như:

+ Mạng lưới thông tin nội bộ gồm: bộ phận chuyên trách và các cộng tác viên ở bộ phận khác của doanh nghiệp.

+ Mạng lưới thông tin cộng tác viên ở các tổ chức bên ngoài.

Trong đó, nhà quản trị hệ thống thông tin tiến hành lựa chọn các thành viên cụ thể để phân chia công việc, cung cấp các phương tiện hỗ trợ để họ có thể hoàn thành công việc; đồng thời, phổ biến các chính sách đãi ngộ rõ ràng để các thành viên trong cơ cấu tổ chức yên tâm làm việc.

- Hình thành các kế hoạch thu thập thông tin, bao gồm:

+ Kế hoạch thu thập thông tin thường xuyên: Đây là các chương trình thu thập thông tin về những diễn biến của các yếu tố môi trường bên trong và bên ngoài, tiến hành một cách liên tục nhằm giúp các nhà quản trị chấn chỉnh kịp thời những sai lệch trong quá trình hoạt động, đồng thời giúp doanh nghiệp chủ động dự báo hoặc phát hiện những tình huống bất thường của môi trường để có biện pháp đối phó hữu hiệu. Việc thu thập thông tin thường xuyên thường do bộ phận chuyên trách trong hệ thống thực hiện thông qua việc nghiên cứu các nguồn thông tin thứ cấp. Ví dụ: Một số nhân viên chuyên trách được phân công đọc tất cả các tờ báo, các tạp chí phát hành ở trong và ngoài nước hàng ngày để tổng hợp những tin tức có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp; hoặc một số người được phân công theo dõi các hoạt động của các đối thủ cạnh tranh, các phát minh khoa học... trên các mạng Web ...

+ Kế hoạch thu thập thông tin định kỳ.

Kế hoạch này được tiến hành nhằm thu thập thông tin về các sự kiện có chọn lọc liên quan đến các chiến lược và các chương trình hành động của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp hoạch định các chương trình hành động ở giai đoạn sau hoặc điều chỉnh chiến lược khi cần thiết. Những thong tin cầu thu thập định kỳ như: kết quả bán hàng ở các khu vực thị trường (doanh số, lợi nhuận, thị phần) phản ứng của khách hàng đối với chính sách giá cả hoặc các chương trình quảng cáo, khuyến mãi, tỉ lệ hàng tồn kho, tỉ lệ dự trữ hàng hoá hoặc nguyên vật liệu, kết quả hoạt động tài chính, ...Thông tin thu thập định kỳ thường do các bộ phận chuyên môn trong Doanh nghiệp cung cấp và bộ phận chuyên trách của hệ thống thông tin có nhiệm vụ tổng hợp, xử lý, phân tích...

+ Kế hoạch thu thập thông tin đột xuất.

Việc thu thập thông tin đột xuất được tiến hành khi hệ thống thông tin của doanh nghiệp phát hiện những sự kiện bất thường, có tác động mạnh đến chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Sự kiện bất thường có thể là cơ hội hoặc nguy cơ đang hoặc sẽ diễn ra trong môi trường kinh doanh mà các nhà quản trị cần có thông tin để ra những quyết định phản ứng thích hợp. Ví dụ: Một đối thủ cạnh tranh bị vỡ nợ đang có kế hoạch bán lại một số đơn vị kinh doanh, đây là một sự kiện có thể tạo ra cơ hội cho doanh nghiệp (như: cơ hội khai thác thị trường hiện tại của đối thủ cạnh tranh, cơ hội mua lại tài sản của đối thủ với giá rẻ...). Hoặc doanh số bán hàng của doanh nghiệp tại một khu vực thị trường sụt giảm bất thường vì một số lý do như: có đối thủ cạnh tranh mới, cơ quan y tế phát hiện một công nghệ mà doanh nghiệp sử dụng gây nguy hại cho sức khoẻ người sử dụng,.. đây là thông tin liên quan đến nguy cơ mà Doanh nghiệp cần phải đối phó. 

 

Bước 4- Tiến hành thu thập và xử lý thông tin

Sau khi đã chuẩn bị các kế hoạch thu thập thông tin, các thành viên trong hệ thống tiến hành thu thập thông tin từ các nguồn thích hợp. Tuỳ theo loại thông tin cần thu thập, công việc được tiến hành như sau:

- Kiểm tra ngân hàng dữ liệu để xem có loại thông tin nào phù hợp nhu cầu hay không.

- Nếu ngân hàng dữ liệu không cung cấp đủ thông tin cần thiết, các thành viên tiến hành tìm kiếm thông tin từ các nguồn khác ở bên trong và bên ngoài doanh nghiệp như: đọc, nghe, xem các nguồn thông tin thứ cấp; hoặc quan sát, phỏng vấn, trò chuyện với các nguồn thông tin sơ cấp.

- Sau khi thu thập thông tin từ các nguồn cung cấp bên trong và bên ngoài, các thành viên của hệ thống tiến hành xử lý, phân tích và đánh giá các dữ liệu đã thu thập, sắp xếp thông tin theo danh mục phù hợp nhu cầu của các nhà quản trị liên quan.

- Tuỳ theo loại thông tin, hệ thống thông tin sẽ tiến hành phổ biến loại thông tin cần thiết cho các nhà quản trị có nhu cầu hoặc tích luỹ trong ngân hàng dữ liệu của doanh nghiệp. Khi thực hiện công việc này, các thành viên trong hệ thống phải thuân thủ nguyên tắc bí mật thông tin của doanh nghiệp.

- Những thông tin có giá trị sử dụng lâu dài (dù đã được các nhà quản trị sử dụng) được lưu trữ để phục vụ nhu cầu ra quyết định ở giai đoạn sau.

Bước 5- Dự báo diễn biến của các yếu tố môi trường

Muốn đề ra các chiến lược của Doanh nghiệp trong tương lai thì điều quan trọng là phải tiên liệu được tình hình môi trường kinh doanh mà Doanh nghiệp sẽ gặp phải trong thời gian ngắn hoặc lâu dài.

Như vậy mục đích của dự báo chính là dự báo những ảnh hưởng của môi trường đến hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp .

Về nguyên tắc dự báo môi trường kinh doanh phải trả lời được câu hỏi:

Khi nào và ở đâu diễn ra sự thay đổi?

Xu hướng và mức độ tác động của từng thay đổi cụ thể đó đến hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp ?

Môi trường kinh doanh tác động đến hoạt động của Doanh nghiệp theo rất nhiều hướng

khác nhau với mức độ rất khác nhau.

Vì vậy việc lựa chọn những biến số cụ thể để tiến hành dự báo phụ thuộc rất nhiều vào

hoàn cảnh của mỗi Doanh nghiệp trong những thời kì cụ thể và gắn bó với nó là nội dung và quy mô xác định của môi trường bên trong và bên ngoài doanh nghiệp.

Các biến số cụ thể của môi trường kinh doanh cần dự báo là các biến số ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp . Đó thường là xu hướng thay đổi kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá, xu hướng thay đổi kỹ thuật- công nghệ, chiến lược của các đối thủ cạnh tranh chủ yếu, phản ứng của khách hàng cũng như nguyện vọng của các đối tượng liên quan

* Các phương pháp dự báo

Có nhiều cách phân chia phương pháp sự báo môi trường.

- Có thể phân ra làm ba nhóm là

+ các phương pháp hình thức hoá được (dưới dạng mô hình),

+ Các phương pháp phi hình thức (như phương pháp chuyên gia)

+ Phương pháp kết hợp hai loại trên.

- Có thể phân loại các phương pháp dự báo theo tầm dự báo. Mặc dù cách phân chia này có tính tương đối, song thông thường người ta chia làm ba nhóm:

+ Các phương pháp dự báo ngắn hạn với tầm dự báo không vượt quá 1 năm,

+ Các phương pháp dự báo trung hạn với tầm dự báo từ 2- 5 năm

+ Các phương pháp dự báo dài hạn với tầm dự báo lớn hơn 5 năm.

- Ngoài ra còn có cách phân chia thích hợp hơn là phân làm hai nhóm: các phương pháp dự báo chất lượng và các phương pháp dự báo số lượng.

+ Các phương pháp dự báo chất lượng được sử dụng khi các thông tin, số liệu cụ thể có quá ít hoặc khó sử dụng. Loại dự báo này sử dụng những ý kiến đánh giá và hệ thống trọng số chủ quan để tạo thành những thông tin chất lượng trong các đánh giá số lượng.

Các phương pháp dự báo thường được sử dụng của nhóm này là phương pháp suy luận hợp lí, phương pháp xây dựng các kịch bản và phương pháp chuyên gia.

Phương pháp suy luận hợp lí dựa vào trực quan và kinh nghiệm của người làm dự báo, dựa trên cơ sở tư duy lành mạnh xuyên suốt toàn bộ các phương pháp dự báo khác song lại không thể tóm tắt thành một quy tắc, quy trình, tiêu chuẩn nào.

Phương pháp xây dựng kịch bản là phương pháp tạo ra một dãy giả thuyết có lôgic các biến cố, trả lời các câu hỏi "nếu...thì...''.

Phương pháp chuyên gia là phương pháp dự báo dựa trên cơ sở xử lí một cách khoa học những ý kiến của "chuyên gia" - những người am hiểu sâu sắc về lĩnh vực chuyên môn hẹp đang được khảo sát.

+ Các phương pháp dự báo số lượng được sử dụng khi tồn tại những thông tin về quá khứ và có thể biểu diễn những thông tin này dưới dạng số và khi giả thiết rằng hệ thống đã tồn tại cho đến nay vẫn tiếp tục trong khoảng thời gian dự báo.

Các phương pháp chính của nhóm này là phương pháp ngoại suy và phương pháp mô hình hóa.

Phương pháp ngoại suy dựa trên luận cứ cho các sự vật và hiện tượng vận động theo các quy luật khách quan, do có sự liên hệ ràng buộc phức tạp nên luôn có tính ỳ (quán tính), muốn có phát triển nhảy vọt thì phải qua giai đoạn tiệm tiến. Nói cách khác, nhờ nắm chắc các quy luật vận động trong quá khứ người ta có thể "phát triển" quy luật đó theo kiểu "ngoại suy" cho một tương lai không xa.

Còn phương pháp mô hình hóa lại dựa trên một luận điểm của điều khiển học cho rằng giữa các hiện tượng xảy ra trong kinh tế, xã hội, kỹ thuật,¼ đều có những điểm tương tự, có thể sử dụng mô hình để nghiên cứu tìm ra các quy luật chung về sự tồn tại, phát sinh và phát triển của chúng.

+ Cũng có trường hợp sử dụng đồng thời cả phương pháp chất lượng và phương pháp số lượng để dự báo, chẳng hạn như sử dụng các chuyên gia để đánh giá một hoặc một vài tham số trong mô hình dự báo. Những thông tin về định tính sẽ giúp cho việc lượng hóa chính xác hơn và ngược lại trong nhiều trường hợp các thông tin về định lượng sẽ giúp cho việc nghiên cứu định tính đạt được những kết quả sâu sắc hơn. Kết hợp phương pháp mô hình hóa với phương pháp chuyên gia sẽ tạo điều kiện nâng cao chất lượng của dự báo.

* Lựa chọn phương pháp dự báo thích hợp

Đối với mỗi vấn đề kinh tế, xã hội hay kỹ thuật có thể lựa chọn rất nhiều phương pháp khác nhau để tiến hành dự báo. Nhà quản trị phải lựa chọn phương pháp dự báo thích hợp để phục vụ cho mục tiêu của mình. Cần có hai điều kiện quan trọng đầu tiên trước khi lựa chọn là: những người thực hiện việc lựa chọn phải hiểu biết các phương pháp dự báo sẽ được sử dụng; cần phải chấp nhận một thủ tục để so sánh ưu nhược điểm của mỗi phương pháp riêng biệt.

Phương pháp luận chủ yếu của dự báo là phải tuân theo cách tiếp cận hệ thống, đi sâu dần vào bản chất của sự vật. Nói chung Doanh nghiệp nên lựa chọn phương pháp dự báo theo cách thức tiến hóa, tức là bắt đầu từ những phương pháp đơn giản nhất với đối tượng dự báo thuộc phạm vi toàn doanh nghiệp rồi tiến đến những phương pháp phức tạp hơn, cho các đối tượng dự báo ở phạm vi hẹp hơn. Kinh nghiệm thực tế cũng chỉ ra rằng, để nâng cao chất lượng dự báo, một mặt phải sử dụng nhiều phương pháp dự báo khác nhau và tiếp tục tìm tòi các phương pháp mới thích hợp hơn với đối tượng dự báo, mặt khác dự báo cần phải làm đi làm lại nhiều lần để kết quả thu được ngày càng chính xác.

Nhóm nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới quyết định lựa chọn phương pháp dự báo gồm:

- Trình độ của các nhà quản trị tiến hành xây dựng dự báo.

Sự hiểu biết của nhà quản trị về bản chất các phương pháp dự báo, những ưu nhược điểm, những khó khăn thuận lợi trong thực tiễn sử dụng là một nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng tới việc lựa chọn phương pháp dự báo.

- Chi phí cho việc xây dựng dự báo.

Chi phí cho việc xây dựng dự báo liên quan tới chi phí cho việc thu thập và xử lý số liệu, thời gian soạn thảo, thời gian sử dụng máy tính,... Nhiều phương pháp dự báo mặc dù thích hợp song vẫn không được lựa chọn vì chi phí để tiến hành theo phương pháp đó quá lớn, không thể đáp ứng được.

- Các đặc trưng liên quan đến vấn đề cần tiến hành dự báo.

Vấn đề dự báo thuộc lĩnh vực gì, các đặc trưng cơ bản của lĩnh vực đó, khoảng thời gian cần tiến hành dự báo... là những nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp dự báo.

- Các đặc điểm của phương pháp dự báo.

Ở đây đề cập đến độ chính xác, tính cụ thể của kết quả dự báo được tiến hành theo phương pháp lựa chọn, cơ sở thông tin số liệu cần thiết để tiến hành dự báo theo phương pháp lựa chọn.

Tóm lại việc lựa chọn phương pháp dự báo cụ thể cần xem xét ảnh hưởng tổng hợp của tất cả các nhân tố trên.

Bước 6- Tổng hợp kết quả phân tích và dự báo môi trường kinh doanh

Các kết quả phân tích và dự báo được tổng hợp theo bảng tổng hợp các nhân tố thuộc môi trường. 

Có thể trình bày quá trình đánh giá các nhân tố thông qua các bước cụ thể sau:

- Lựa chọn các nhân tố quan trọng để đưa vào bảng đánh giá;

- Đánh giá cụ thể tầm quan trọng của nhân tố đối với ngành theo điểm số;

- Đánh giá cụ thể tầm quan trọng của nhân tố đối với Doanh nghiệp theo điểm số;

- Đánh giá cụ thể xu hướng tác động của nhân tố;

- Tổng hợp kết quả đánh giá tác động của các nhân tố môi trường kinh doanh. 

Việc hình thành bao nhiêu bảng phân tích và đánh giá tác động của các nhân tố môi trường kinh doanh hoàn toàn phụ thuộc vào cách phân bậc môi trường. Dưới đây trình bày một trong các cách phân bậc đó: Tổng hợp kết quả phân tích và dự báo về môi trường bên ngoài và tổng hợp kết quả phân tích và dự báo về môi trường bên trong.

+ Tổng hợp kết quả phân tích và dự báo về môi trường bên ngoài.

Mục đích là để đánh giá cụ thể xu hướng và mức độ tác động của từng nhân tố quan trọng thuộc môi trường bên ngoài tác động đến hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp trong thời kì chiến lược. Mặc dù có nhiều phương pháp khác nhau song ở đây chỉ đề cập đến phương pháp cho điểm từng nhân tố ảnh hưởng và thực hiện tổng hợp kết quả phân tích và dự báo môi trường bên ngoài theo bảng tổng hợp tác động của các nhân tố môi trường kinh doanh bên ngoài.

Muốn vậy, trước hết phải liệt kê toàn bộ cơ hội, đe dọa của môi trường bên ngoài đến hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp trong thời kì chiến lược. Mọi cơ hội, đe dọa được khẳng định thông qua quá trình phân tích và đánh giá chiến lược. Tiếp theo phải xác định thứ tự của các thời cơ, cơ hội cũng như các đe dọa, rủi ro đối với hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp trong thời kì chiến lược.

+ Tổng hợp kết quả phân tích và đánh giá về môi trường nội bộ của Doanh nghiệp

Là xác định các điểm mạnh, điểm yếu của bản thân Doanh nghiệp trong thời kì chiến lược. Muốn làm rõ được mạnh, yếu của doanh nghiệp phải so sánh các nhân tố quan trọng thuộc môi trường bên trong doanh nghiệp với các đối thủ cạnh tranh và dựa vào kết quả so sánh đó để đánh giá xu hướng tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong thời kì chiến lược. Sau đó, dựa vào kết quả đánh giá ở trên để xác định trật tự các điểm mạnh, yếu tác động đến hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp trong thời kì chiến lược.

(Còn nữa - Mô hình hệ thống thông tin quản lý - Phần 2)

Nguồn: Ths. Lê Thị Bích Ngọc (Quantri.vn biên tập và hệ thống hóa) 

Đăng nhập

Hỏi Chuyên gia Quantri.vn

Trong trường hợp đã là thành viên: Đặt câu hỏi miễn phí với chuyên gia Quantri.vn. Câu hỏi của thành viên sẽ được trả lời trong vòng 7 ngày. Trong trường hợp khẩn cấp, vui lòng liên hệ (08).22.49.49.49 Đặt câu hỏi
Tìm kiếm câu trả lời trước khi đặt câu hỏi

Danh sách chuyên gia

Danh mục tư vấn