Khởi NghiệpChiến LượcNhân SựMarketing và Bán HàngCông NghệTài ChínhKỹ Năng

Kết quả

Những thách thức trong kinh doanh quốc tế:

Đối diện với những thách thức trong kinh doanh quốc tế các quốc gia, các doanh nghiệp phải tìm cách để đạt và giữ được những vị trí quan trọng trong thương mại và đầu tư quốc tế.

1. Duy trì lợi thế cạnh tranh kinh tế

Các nghiên cứu cho thấy rằng cách tốt nhất để các doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh liên tục cải tiến. Thông thường điều này được thực hiện thông qua cải tiến hàng hóa và dịch vụ. Nhiều chuyên gia khẳng định rằng, yếu tố quan trọng nhất tạo lợi thế cạnh tranh cho các quốc gia là chi phí lao động, lãi suất, tỷ giá hối đoái và quy mô kinh tế. Vấn đề này được coi là thiếu sót khi xem xét những nguồn lực thực sự của lợi thế cạnh tranh quốc tế.

Phương cách thứ hai để các công ty quốc tế duy trì lợi thế cạnh tranh là thay thế sản phẩm cũ bằng sản phẩm mới.

2. Tính cạnh tranh quốc tế

Trả lời câu hỏi: một số công ty có thể thực hiện việc đổi mới một cách kiên quyết, còn những công ty khác thì không thể, theo Porter có 4 đặc trưng mang tính riêng biệt có tính quốc gia quyết định đến lợi thế cạnh tranh: điều kiện thâm dụng, điều kiện nhu cầu, các ngành công nghiệp liên kết và hỗ trợ, môi trường mà công ty cạnh tranh.

a. Nhóm yếu tố thâm dụng

Theo lý thuyết thương mại quốc tế cơ sở, một quốc gia sẽ xuất khẩu những hàng hóa mà họ có thể sử dụng tốt nhất các yếu tố thâm dụng có được. Những yếu tố thâm dụng này bao gồm: tài nguyên, lao động và vốn. Tuy nhiên, có những học thuyết thương mại quốc tế chỉ dựa vào 1 trong những yếu tố căn bản. Ví dụ: Hà Lan là nước xuất khẩu hàng đầu thế giới về hoa, đã xây dựng viện nghiên cứu về trồng trọt, đóng gói và vận chuyển hoa. Kết quả là không quốc gia nào có thể đánh bật họ ra khỏi vị trí vững chắc trong ngành công nghiệp hoa quốc tế. Đôi khi một vài quốc gia có thể phát triển các yếu tố thâm dụng họ cần. Những nhà luyện thép người Ý ở phía bắc Lombardy thấy rằng họ không thể cạnh tranh vì chi phí cao và thiếu nguồn nguyên liệu địa phương. Do vậy, họ khởi xướng những nhà máy nhỏ có kỹ thuật cao sử dụng ít năng lượng hơn và được đầu tư hiện đại nhất, cho phép nhà sản xuất gần nguồn nguyên liệu địa phương và người sử dụng cuối cùng hơn và hoạt động hiệu quả hơn với quy mô nhỏ. Người Nhật là 1 ví dụ điển hình khác, nước này nhập khẩu nhiều nguyên liệu thô bằng những sự phát triển kịp thời phương thức sản xuất, những nhà máy sản xuất chủ yếu đã có thể giảm được khối lượng nguyên liệu họ cần và gia tăng năng suất lao động. Điều này đã giúp cho họ đạt được thị phần thế giới đáng kể trong khu vực xe ô tô và hàng tiêu dùng.

Việc đạt được lợi thế cạnh tranh phụ thuộc vào khả năng sử dụng 1 hoặc vài yếu tố thâm dụng. Ví dụ: để cải tiến sản phẩm, một công ty thường phải tiếp cận những người có kỹ năng cần thiết (yếu tố thâm dụng), cũng như những nhà cạnh tranh trong nước là những người tạo áp lực cạnh tranh (yếu tố cạnh tranh), tiếp cận khách hàng là những người muốn có sản phẩm tốt hơn hoặc rẻ hơn (yếu tố nhu cầu) và cả những nhà cung cấp (ngành công nghiệp hỗ trợ) là những người gợi ý và cung cấp nguyên vật liệu với giá thấp. Điều cần thiết cho 1 công ty để gắn bó với ngành và đề ra quyết định là tìm ra phương cách giải quyết vấn đề thông qua những nỗ lực đổi mới hơn là tìm cách dễ nhất liên quan với những bất lợi.

b. Những điều kiện nhu cầu

Lợi thế cạnh tranh của 1 quốc gia sẽ mạnh hơn nếu có sự tăng nhu cầu về sản phẩm, dịch vụ. Việc hiểu nhu cầu cung cấp nhiều lợi ích.

Thứ nhất, nhu cầu giúp người bán hiểu những gì người mua cần.

Thứ hai, khi những thay đổi trở nên cần thiết, chẳng hạn khi nhu cầu của khách hàng là muốn sản phẩm nhỏ hơn, nhẹ hơn hoặc tiết kiệm nhiên liệu hơn, những người bán ở địa phương sẽ biết được và có thể cải tiến hoặc điều chỉnh cho phù hợp với thị trường trước khi những nhà cạnh tranh ở xa có thể phản ứng.

c. Các ngành công nghiệp liên kết và hỗ trợ

Thành phần thứ ba trong mô hình Porter về lợi thế cạnh tranh quốc gia là sự hiện diện của các ngành công nghiệp liên kết và hỗ trợ có tính cạnh tranh quốc tế. Khi nhà cung cấp ở gần nhà sản xuất, những công ty này thường cung cấp nguyên vật liệu với chi phí thấp mà những nhà cạnh tranh ở xa không có được. Hơn nữa, nhà cung cấp biết những điều sẽ xảy ra trong môi trường công nghiệp để dự đoán và phản ứng với những thay đổi bằng những việc chia sẻ này với nhà sản xuất, họ giúp nhà sản xuất duy trì vị thế cạnh tranh.

e. Tổ chức, chiến lược công ty và sự cạnh tranh

Thành phần thứ tư trong mô hình Porter là hoàn cảnh mà công ty sàng tạo, tổ chức và quản trị cũng như bản chất của sự cạnh tranh nội bộ. Không có 1 hệ thống quản lý nào thích hợp cho tất cả các quốc gia có khuynh hướng điều hành tốt các ngành công nghiệp là những ngành mà sự thực hành quản lý môi trường quốc gia thuận lợi phù hợp với các nguồn lực công nghiệp của lợi thế cạnh tranh… Ví dụ: ở Ý, các công ty thành công thường có quy mô vừa và nhò, hoạt động trong những ngành như dụng cụ gia đình, giày, vớ và máy đóng gói, hoạt động theo chiến lược tập trung theo hướng đáp ứng các thị trường còn bỏ trống. Tại Nhật những công ty thành công đòi hỏi sự kết hợp phi thường thông qua mối quan hệ chức năng và yêu cầu sự liên kết quản lý của những nhóm điều hành. Ngành sản xuất xe ô tô, tivi, máy vi tính là những ví dụ điển hình.

Các thành phần của Porter hoạt động như 1 hệ thống, các nghiên cứu chỉ ra rằng trong 4 thành phần, sự cạnh tranh trong nước và sự gò bó về địa lý là yếu tố quan trọng. Sự cạnh tranh trong nước thúc đẩy sự cải tiến ba thành phần kia và tập trung về mặt địa lý làm tăng ảnh hưởng qua lại giữa bốn thành phần. Trong những năm 90, những điều này được xem là nền tảng cho việc xây dựng và thực hiện chiến lược.

f. Những quy định của chính phủ và luật lệ kinh doanh

Những chính sách chính phủ có thể có kết quả nghiêm trọng đến thương mại quốc tế. Chẳng hạn, nhà nước can thiệp với mục đích bảo vệ ngành công nghiệp trong nước thường dẫn đến kết quả làm giảm tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước nhưng điều này thường gây áp lực nội địa mạnh để tạo ra sự bảo vệ.

Vai trò chủ yếu của chính phủ trong kinh doanh quốc tế là nhà đàm phán thương mại thế giới. Sự thương lượng giữa các nước có thể giới hạn hoặc ngăn chặn những hoạt động thương mại không công bằng tiến hành. Rõ ràng chiến lược kinh doanh quốc tế sẽ chịu ảnh hưởng bởi những thỏa thuận thương mại và bởi những pháp chế, quy định của nước sở tại có thể làm cho một MNC này thuận lợi hơn MNC khác.

Nguồn: Quantri.vn (Biên tập và hệ thống hóa)

 

Hỏi Chuyên gia Quantri.vn

Trong trường hợp đã là thành viên: Đặt câu hỏi miễn phí với chuyên gia Quantri.vn. Câu hỏi của thành viên sẽ được trả lời trong vòng 7 ngày. Trong trường hợp khẩn cấp, vui lòng liên hệ (08).22.49.49.49 Đặt câu hỏi
Tìm kiếm câu trả lời trước khi đặt câu hỏi

Danh sách chuyên gia

Danh mục tư vấn