Khởi NghiệpChiến LượcNhân SựMarketing và Bán HàngCông NghệTài ChínhKỹ Năng

Kết quả

Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động:

Các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân gồm:

1- Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động của cơ quan lao động quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) đối với những nơi không có Hội đồng hoà giải lao động cơ sở;

2- Toà án nhân dân.

Các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể gồm:

1- Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động của cơ quan lao động cấp huyện nơi không có Hội đồng hoà giải lao động cơ sở;

2- Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh;

3- Toà án nhân dân.

a. Hội đồng hòa giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động cấp huyện:

Hội đồng hoà giải lao động cơ sở phải được thành lập trong các doanh nghiệp có công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành công đoàn lâm thời gồm số đại diện ngang nhau của bên người lao động và bên người sử dụng lao động. Số lượng thành viên của Hội đồng do hai bên thoả thuận.

Nhiệm kỳ của Hội đồng hoà giải lao động cơ sở là hai năm. Đại diện của mỗi bên luân phiên làm Chủ tịch và Thư ký Hội đồng. Hội đồng hoà giải lao động cơ sở làm việc theo nguyên tắc thoả thuận và nhất trí.

Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một bên tranh chấp vắng mặt đến lần thứ hai theo giấy triệu tập hợp lệ mà không có lý do chính đáng, thì Hội đồng hoà giải lao động cơ sở lập biên bản hoà giải không thành. Bản sao biên bản phải được gửi cho hai bên tranh chấp trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày hoà giải không thành. Mỗi bên tranh chấp đều có quyền yêu cầu Toà án nhân dân giải quyết tranh chấp. Hồ sơ gửi Toà án nhân dân phải kèm theo biên bản hoà giải không thành.

 

Hội đồng hòa giải lao động cơ sở là tổ chức có tính chất xã hội trong doanh nghiệp, có nhiệm vụ làm cân bằng mối quan hệ lao động giữa hai bên khi xảy ra tranh chấp. Do vậy, cả hai bên người lao động và người sử dụng lao động đều phải thừa nhận sự tồn tại khách quan của hội đồng hòa giải. Pháp luật quy định người sử dụng lao động phải đảm bảo các điều kiện cần thiết cho hội đồng hòa giải lao động cơ sở hoạt động được tốt.

Hội đồng hòa giải lao động cơ sở có trách nhiệm giải quyết tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể trong phạm vi doanh nghiệp.

Người sử dụng lao động bảo đảm điều kiện cần thiết cho hoạt động của Hội đồng hoà giải lao động cơ sở.

Hòa giải viên lao động:

Hoà giải viên lao động tiến hành việc hoà giải đối với các tranh chấp lao động cá nhân xảy ra ở nơi chưa thành lập Hội đồng hoà giải lao động cơ sở, tranh chấp về thực hiện hợp đồng học nghề và chi phí dạy nghề

Hòa giải viên do cơ quan lao động cấp huyện cử ra.

b. Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh

Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp lao động tập thể đã được Hội đồng hòa giải lao động cơ sở giải quyết nhưng không đạt được kết quả.

Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh gồm các thành viên chuyên trách và kiêm chức là đại diện của cơ quan quản lý nhà nước lao động, đại diện của công đoàn, đại diện của những người sử dụng lao động và một số luật gia, nhà quản lý, nhà hoạt động xã hội có uy tín ở địa phương. Thành phần Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh được hình thành theo số lẻ, tối đa không được quá chín người, do đại diện cơ quan lao động cấp tỉnh làm Chủ tịch.

Nhiệm kỳ của Hội đồng trọng tài lao động là ba năm.

Hội đồng trọng tài lao động quyết định theo nguyên tắc đa số, bằng cách bỏ phiếu kín.

Cơ quan lao động cấp tỉnh bảo đảm điều kiện cần thiết cho hoạt động của

Hội đồng trọng tài lao động.

c. Tòa án nhân dân:

Toà án nhân dân giải quyết các tranh chấp lao động cá nhân mà Hội đồng hoà giải lao động cơ sở, hoà giải viên lao động hoà giải không thành hoặc Hội đồng hoà giải lao động cơ sở, hoà giải viên lao động không giải quyết trong thời hạn quy định.

Tuy nhiên có những tranh chấp lao động cá nhân Toà án nhân dân giải quyết mà không nhất thiết phải qua hoà giải tại cơ sở gồm:

a) Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về

trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

b) Tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

c) Tranh chấp giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

d) Tranh chấp về bảo hiểm xã hội quy định tại điểm b khoản 2 Điều 151 của Bộ luật này;

đ) Tranh chấp về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp xuất khẩu lao động.

Tòa lao động thuộc tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp lao động tập thể sau khi vụ tranh chấp đã qua thủ tục giải quyết tại hội đồng hòa giải lao động cơ sở và hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh mà tập thể lao động không tiến hành đình công. Tòa án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp lao động là tòa nơi làm việc hoặc nơi cư trú của bị đơn15. Nếu bị đơn là một pháp nhân thì tòa có thẩm quyền là tòa nơi pháp nhân có trụ sở chính. Các đương sự có quyền thỏa thuận việc yêu cầu tòa án nơi làm việc hoặc nơi cư trú của nguyên đơn giải quyết vụ án lao động. Nguyên đơn có quyền lựa chọn tòa án để yêu cầu giải quyết vụ án lao động trong các trường hợp sau:

+ Nếu không biết rõ trụ sở hoặc nơi cư trú của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu tòa án nơi có tài sản, nơi có trụ sở hoặc nơi cư trú cuối cùng của bị đơn để giải quyết vụ án.

+ Nếu vụ án phát sinh từ hoạt động của chi nhánh doanh nghiệp thì nguyên đơn có quyền yêu cầu tòa án nơi doanh nghiệp có trụ sở hoặc nơi có chi nhánh doanh nghiệp giải quyết.

+ Nếu vụ án phát sinh từ hoạt động của người sử dụng lao động là người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian thì nguyên đơn có quyền yêu cầu tòa án nơi người sử dụng lao động là chủ chính có trụ sở hoặc cư trú, hoặc nơi người cai thầu, người có vai trò trung gian cư trú.VD : A cư trú tại TP. Cần thơ là cai thầu xây dựng, chịu trách nhiệm khoan móng cho công trình. Chủ thi công là Công ty xây dựng 46 đóng trụ sở tại quận Bình Thạnh - TP.HCM. B là người làm công cho A. Khi có tranh chấThạnhđộng cá nhân giữa B và A phát sinh, B có quyền yêu cầu Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh hoặc Tòa án nhân dân TP. Cần Thơ giải quyết tranh chấp.

+ Nếu vụ án phát sinh do vi phạm hợp đồng, tranh chấp lao động tập thể, hợp đồng học nghề thì nguyên đơn có quyền yêu cầu tòa án nơi thực hiện hợp đồng lao động, tranh chấp lao động tập thể hoặc hợp đồng học nghề giải quyết.

+ Đối với các vụ án về đòi bồi thường thiệt hại về tính mạng sức khỏe, chi phí y tế do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc đòi trả tiền lương, cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc và khoản tiền trả cho người lao động về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế khi người lao động không thuộc loại hình bảo hiểm bắt buộc thì nguyên đơn có quyền yêu cầu tòa án nơi cư trú của mình, nơi bị đơn có trụ sở hoặc cư trú giải quyết.

+ Đối với vụ án về đòi người lao động bồi thường thiệt hại tài sản, phí dạy nghề, thì nguyên đơn có quyền yêu cầu tòa án nơi người đó làm việc hoặc cư trú giải quyết. Trong trường hợp có nhiều bị đơn có nơi làm việc hoặc nơi cư trú khác nhau thì nguyên đơn có quyền yêu cầu tòa án nơi một trong các bị đơn làm việc hoặc cư trú giải quyết.

+ Nếu trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể mà các bên đã thỏa thuận trước về tòa án giải quyết việc tranh chấp thì nguyên đơn chỉ có thể được khởi kiện tại tòa án đó.

ThS. Diệp Thành Nguyên
QuanTri.vn Biên tập và hệ thống hóa

Hỏi Chuyên gia Quantri.vn

Trong trường hợp đã là thành viên: Đặt câu hỏi miễn phí với chuyên gia Quantri.vn. Câu hỏi của thành viên sẽ được trả lời trong vòng 7 ngày. Trong trường hợp khẩn cấp, vui lòng liên hệ (08).22.49.49.49 Đặt câu hỏi
Tìm kiếm câu trả lời trước khi đặt câu hỏi

Danh sách chuyên gia

Danh mục tư vấn