Khởi NghiệpChiến LượcNhân SựMarketing và Bán HàngCông NghệTài ChínhKỹ Năng

Kết quả

Cơ sở của hành vi cá nhân trong tổ chức (Phần 2: Tính cách phù hợp với công việc):

Thực tế là tính cách của các cá nhân rất khác nhau và đặc điểm, nội dung, yêu cầu của các công việc cũng vậy. Theo logic này, các nhà quản lý đã có những nỗ lực để chọn những người có tính cách phù hợp với những yêu cầu của công việc. Lý thuyết ghép tính cách phù hợp công việc được nghiên cứu nhiều nhất là mô hình sáu loại tính cách. Theo mô hình này thì sự thỏa mãn của một nhân viên với công việc của mình và sự gắn bó của họ đối với công việc sẽ phụ thuộc vào mức độ phù hợp giữa tính cách của cá nhân đó với công việc. J.L Holland đã nghiên cứu và xác định được sáu loại tính cách chủ yếu và tương ứng với mỗi loại tính cách là loại mẫu công việc phù hợp với tính cách đó. Bảng 2.3 thể hiện tính cách cùng với những công việc tương tích với chúng.

Bảng 2.3: Nghiên cứu loại tính cách và mẫu công việc của Holland.

 

Nguồn: Dựa vào J.L. Holland, Lựa chọn nghề nghiệp: Lý thuyết về tính cách làm việc và môi trường làm việc, tái bản lần thứ hai. (Englewood Cliffs, NJ: Prentice Hall, 1985)

Người ta đã xây dựng một bảng câu hỏi “Thống kê Sở thích Nghề nghiệp”, bao gồm 160 loại nghề nghiệp. Những người trả lời cho biết loại công việc nào họ thích hay không thích, và câu trả lời của họ được sử dụng để thiết lập các đặc điểm tính cách. Sử dụng phương pháp này, các nhà nghiên cứu đã cho thấy việc sắp xếp các tính cách theo một hình lục giác như trong Hình 2.4. Hai tính cách ở hai đỉnh kề nhau của lục giác tương đối giống hay hợp với nhau còn hai tính cách nằm ở hai đỉnh đối xứng của lục giác có tính đối lập nhau.

               Hình 2.4: Mối quan hệ giữa các loại tính cách và công việc.

 

Nguồn: Dựa vào J.L. Holland, Lựa chọn nghề nghiệp: Lý thuyết về tính cách làm việc và môi trường công việc, tái bản lần thứ hai. (Englewood Cliffs, NJ: Prentice Hall, 1985) trang 23.

Lý thuyết này lập luận rằng sự thỏa mãn công việc là cao nhất và mức độ thay thế nhân công là thấp nhất khi mà tính cách và nghề nghiệp phù hợp với nhau. Các cá nhân có tính cách xã hội nên làm những công việc có tính xã hội, những con người nguyên tắc nên làm những công việc mang tính nguyên tắc, v.v… Một con người thực tế trong một công việc mang tính thực tế là đang ở trong một tình huống thích hợp hơn so với những người thực tế ở trong một công việc mang tính điều tra. Một con người thực tế trong một công việc mang tính xã hội là đang ở trong một tình huống bất hợp lý nhất có thể có. Các luận điểm chủ yếu của mô hình này là: (1) dường như có những khác biệt tính cách mang tính bản chất giữa các cá nhân; (2) có các loại hình công việc khác nhau, và (3) mọi người trong các môi trường công việc phù hợp với loại hình tính cách của họ sẽ thỏa mãn hơn và ít có khả năng tình nguyện thôi việc hơn so với những người đang phải làm những công việc không thích hợp với tính cách.

Giáo trình Hành vi tổ chức 
Chủ biên: PGS.TS. Bùi Anh Tuấn
  PGS.TS. Phạm Thúy Hương

  (quantri.vn biên tập và số hóa)

Hỏi Chuyên gia Quantri.vn

Trong trường hợp đã là thành viên: Đặt câu hỏi miễn phí với chuyên gia Quantri.vn. Câu hỏi của thành viên sẽ được trả lời trong vòng 7 ngày. Trong trường hợp khẩn cấp, vui lòng liên hệ (08).22.49.49.49 Đặt câu hỏi
Tìm kiếm câu trả lời trước khi đặt câu hỏi

Danh sách chuyên gia

Danh mục tư vấn