Khởi NghiệpChiến LượcNhân SựMarketing và Bán HàngCông NghệTài ChínhKỹ Năng

Kết quả

Cơ sở của hành vi cá nhân trong tổ chức (Phần 2: Các thuộc tính tính cách khác):

Người ta đã xác định được thêm 5 thuộc tính tính cách mà dường như có mối liên quan trực tiếp đối với việc giải thích và dự đoán hành vi trong tổ chức. Các thuộc tính đó là quan niệm về số phận, độc đoán, chủ nghĩa thực dụng, tự kiểm soát và thiên hướng đối với rủi ro.

Quan niệm về số phận

Một số người cho rằng họ là chủ số phận của mình. Những người khác lại coi mình là con bài của số phận, cho rằng những gì xảy ra với họ là do số phận quy định. Quan niệm về số phận trong trường hợp đầu tiên mang tính hướng nội; những người này cho rằng họ kiểm soát được vận mệnh của mình. Những người coi cuộc sống của họ bị kiểm soát bởi các yếu tố bên ngoài là những người hướng ngoại. Bằng chứng cho thấy rằng các nhân viên có điểm cao về độ hướng ngoại thường ít thỏa mãn hơn với công việc của mình, xa lánh với môi trường làm việc và ít gắn bó với công việc hơn so với những người hướng nội. Những người hướng ngoại khi bị đánh giá kết quả thấp thường đổ lỗi do sự trù úm của người chủ, các đồng sự và các sự kiện khác ngoài tầm kiểm soát của họ. Còn những người hướng nội lại có thể giải thích cùng đánh giá này theo những hành động của chính họ.

Độc đoán

Những người theo chủ nghĩa độc đoán cho rằng cần phải có những khác biệt về địa vị và quyền lực giữa mọi người trong tổ chức. Tính cách độc đoán cao độ tới mức cực đoan được thể hiện ở sự cứng nhắc về nhận thức, hay phán xét người khác; không tin tưởng cấp dưới và chống lại sự thay đổi. Đương nhiên, rất ít người là những người độc đoán cực đoan, vì vậy cần phải cẩn thận khi đưa ra kết luận. Tuy nhiên, dường như là hợp lý khi nói rằng một tính cách độc đoán cao độ sẽ ảnh hưởng xấu đến những công việc đòi hỏi phải có sự nhạy cảm trước tình cảm, phải có tinh thần hợp tác trong công việc và phải luôn thích nghi với những tình huống phức tạp và đang thay đổi. Mặt khác, ở đâu công việc được cơ cấu hóa cao độ và sự thành công dựa vào sự tuân thủ chặt chẽ các quy tắc và quy định, thì những người có tính độc đoán lại làm việc rất tốt.

Chủ nghĩa thực dụng

Người theo chủ nghĩa thực dụng thường giữ khoảng cách về tình cảm và cho rằng kết quả cuối cùng có thể lý giải cho phương tiện. Khẩu hiệu của những người thực dụng là “nếu nó có tác dụng, hãy sử dụng nó”. Những người có tính thực dụng cao có thể trở thành các nhân viên tốt không? Câu trả lời tùy thuộc vào loại hình công việc và việc bạn có xem xét các tác động về đạo đức trong đánh giá kết quả không. Trong những công việc đòi hỏi kỹ năng thương lượng (như thương lượng lao động) hay ở những nơi có phần thưởng lớn cho việc giành chiến thắng (chẳng hạn như trong việc bán hàng có hoa hồng), người thực dụng thường có năng suất cao. Nhưng nếu như các kết quả cuối cùng không thể biện minh cho phương tiện hay nếu như không có các tiêu chuẩn tuyệt đối về kết quả, thì khả năng chúng ta có thể dự đoán kết quả hoạt động của người thực dụng sẽ giảm đáng kể.

Tự kiểm soát

Những người có khả năng tự kiểm soát cao thường nhạy cảm với những dấu hiệu bên ngoài và có thể cư xử theo cách khác nhau trong những tình huống khác nhau. Họ có thể thay đổi để thích nghi với tình hình và che giấy bản chất thực sự của họ. Mặt khác, những người có khả năng tự kiểm soát thấp thường nhất quán. Họ bày tỏ những ý định và thái độ thực sự trong mọi tình huống. Bằng chứng cho thấy rằng những người tự kiểm soát tốt thường chú ý sát sao hơn đến hành vi của những người khác và có nhiều khả năng tuân thủ hơn so với những người tự kiểm soát kém. Những người có khả năng tự kiểm soát cao cũng có xu hướng giỏi hơn trong các thủ thuật đàm phán kinh doanh bởi vì họ nhạy cảm với những dấu hiệu bên ngoài và có thể dung nhiều “bộ mặt” khác nhau trước những đối tác khác nhau.

Thiên hướng chấp nhận rủi ro

Các cá nhân có thiên hướng chấp nhận rủi ro cao thường có những quyết định nhanh chóng hơn và sử dụng ít thông tin hơn so với các cá nhân có thiên hướng rủi ro thấp. Các nhà quản lý có thể sử dụng thông tin này để gắn thiên hướng rủi ro với các yêu cầu công việc cụ thể. Chẳng hạn, một thiên hướng chấp nhận rủi ro cao có thể dẫn đến kết quả hoạt động tốt hơn đối với một người buôn cổ phiếu của một hãng môi giới chứng khoán. Loại hình công việc này đòi hỏi phải đưa ra quyết định nhanh chóng. Mặt khác, đặc điểm tính cách này có thể tỏ ra là một trở ngại to lớn khi một kế toán viên tiến hành các hoạt động kiểm toán. Nghề kế toán này có thể được thực hiện tốt hơn bởi một ai đó có điểm số thiên hướng chấp nhận rủi ro thấp.

Giáo trình Hành vi tổ chức 
Chủ biên: PGS.TS. Bùi Anh Tuấn
  PGS.TS. Phạm Thúy Hương

  (quantri.vn biên tập và số hóa)

Hỏi Chuyên gia Quantri.vn

Trong trường hợp đã là thành viên: Đặt câu hỏi miễn phí với chuyên gia Quantri.vn. Câu hỏi của thành viên sẽ được trả lời trong vòng 7 ngày. Trong trường hợp khẩn cấp, vui lòng liên hệ (08).22.49.49.49 Đặt câu hỏi
Tìm kiếm câu trả lời trước khi đặt câu hỏi

Danh sách chuyên gia

Danh mục tư vấn